KHẲNG ĐỊNH NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC TRONG NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM: THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÀ BẢO TỒN BẢN SẮC VĂN HOÁ CÁC DÂN TỘC RẤT ÍT NGƯỜI Ở VIỆT NAM
Nguyên tắc bình đẳng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện rõ trong việc tôn trọng đa dạng văn hoá, bảo đảm quyền phát triển và kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế – xã hội với gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Mở đầu
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc
với 54 tộc người cùng sinh sống, hình thành nên một không gian văn hoá đa dạng,
giàu bản sắc và có tính liên kết bền chặt trong tiến trình lịch sử dựng nước và
giữ nước. Sự đa dạng ấy không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục tập
quán, mà còn ở các phương thức sinh kế, cấu trúc xã hội và hệ tri thức bản địa
thích ứng với những điều kiện sinh thái khác nhau. Trong chỉnh thể thống nhất
đó, các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc rất ít người, thường cư trú ở
những địa bàn miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa - những khu vực vừa có vị
trí chiến lược về quốc phòng - an ninh, vừa còn nhiều hạn chế về điều kiện phát
triển. Điều này đặt ra yêu cầu kép trong hoạch định chính sách: vừa thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, vừa bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hoá như một thành tố cấu thành của nền văn hoá quốc gia
thống nhất trong đa dạng.
Một số nghiên cứu quốc tế về chính
sách dân tộc ở Việt Nam tiếp cận theo hướng “đồng hoá văn hoá”, với các khái niệm
như “Vietnamization”, “Kinh hoá” hay “thực dân nội địa” (McElwee, P, 2004).
Theo đó, sự chuyển đổi từ các quan điểm “tự trị”, “đoàn kết dân tộc” sang mục
tiêu xây dựng “con người xã hội chủ nghĩa mới” được cho là gắn với việc áp đặt
mô hình phát triển thống nhất, khiến văn hoá và sinh kế truyền thống của các
dân tộc thiểu số bị xem là “lạc hậu”. Các nghiên cứu gần đây tiếp tục đề cập “bất
bình đẳng văn hoá, ngôn ngữ và áp lực hòa nhập một chiều” (Nguyen, A. H., 2020),
đồng thời chỉ ra hạn chế trong hỗ trợ thể chế và nguy cơ đồng hoá trong bối cảnh
phát triển và toàn cầu hoá (Le, A. T., Nguyen, H. T., & Tran, V. B., 2024).
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là các
cách tiếp cận nêu trên thường dựa trên một lối quy giản, khi đồng nhất những biến
đổi kinh tế - xã hội mang tính lịch sử trong bối cảnh hậu chiến và chuyển đổi
mô hình phát triển với một chủ đích chính sách mang tính “đồng hoá”. Việc quy
chiếu các chính sách như định canh định cư, tổ chức lại sản xuất hay kiện toàn
hệ thống quản lý cơ sở thành những công cụ áp đặt văn hoá không chỉ bỏ qua tính
lịch sử cụ thể của Việt Nam, mà còn làm mờ đi mục tiêu cốt lõi là ổn định đời sống,
xoá đói giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc.
Nghiêm trọng hơn, khi áp dụng các khung phân tích ngoại sinh như “thực dân nội
địa”, một số quan điểm đã đi đến những kết luận phiến diện, thậm chí xuyên tạc
bản chất của chính sách dân tộc.
Trái với những diễn giải mang tính
quy giản và ngoại suy, thực tiễn nhiều năm qua cho thấy đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam về vấn đề dân tộc không vận hành theo logic “đồng hoá”, mà nhất
quán dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt và phát huy giá trị
văn hoá của các tộc người trong một chỉnh thể thống nhất. Những nguyên tắc này
được thể hiện rõ trong quá trình triển khai các chính sách phát triển kinh tế –
xã hội gắn với bảo tồn bản sắc văn hoá, đặc biệt đối với các dân tộc rất ít người.
Trên cơ sở đối chiếu giữa tư liệu đã công bố và thực tiễn khảo sát tại các cộng
đồng Brâu và Rơ-măm - hai dân tộc rất ít người ở Việt Nam, bài viết chỉ ra cách
thức các chính sách phát triển gắn với bảo tồn văn hoá được hiện thực hoá, từ
đó khẳng định tính nhất quán của nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong đường lối của
Đảng và cung cấp cơ sở thực tiễn để bác bỏ các luận điệu quy kết “đồng hoá văn
hoá”.
1. Nguyên tắc bình đẳng dân tộc
trong nền tảng tư tưởng của Đảng
Tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt
Nam về vấn đề dân tộc được xác lập nhất quán trên nền tảng chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với hạt nhân là nguyên tắc các dân tộc bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2011; 2021; 2026). Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930, Đảng đã khẳng
định quyền tự do, bình đẳng của các dân tộc, gắn vấn đề dân tộc với nhiệm vụ giải
phóng dân tộc và chống chính sách chia rẽ của chủ nghĩa thực dân. Quan điểm này
tiếp tục được thể chế hoá sau năm 1945 trong các bản Hiến pháp và được cụ thể
hoá trong thực tiễn kháng chiến, kiến quốc, với trọng tâm là thực hiện bình đẳng
thực chất, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc.
Sau thống nhất đất nước, dù có những điều chỉnh về phương thức triển khai trong
bối cảnh mới, nguyên tắc bình đẳng vẫn được duy trì như một định hướng chiến lược
nhằm đưa các dân tộc cùng phát triển trong một quốc gia thống nhất.
Trên nền tảng xuyên suốt đó, trong
thời kỳ Đổi mới, nguyên tắc bình đẳng dân tộc được bổ sung và hoàn thiện cả về
nội hàm và cơ chế thực hiện. Điểm cốt lõi là bình đẳng thực chất: không đồng nhất
hoá các tộc người, mà bảo đảm quyền phát triển đi đôi với tôn trọng và phát huy
bản sắc văn hoá trong một chỉnh thể quốc gia thống nhất. Cách tiếp cận này về bản
chất phủ nhận logic “đồng hoá văn hoá”, bởi bình đẳng không được hiểu như sự đồng
nhất, mà là quá trình tạo lập điều kiện để các cộng đồng phát triển trong sự đa
dạng.
Trong thực tiễn, từ sau Nghị quyết
số 22-NQ/TW năm 1989, hệ thống chính sách dân tộc từng bước được xây dựng theo
hướng toàn diện, tích hợp và ngày càng phân hoá theo đối tượng. Giai đoạn
1990-2010, các cộng đồng dân tộc thiểu số, trong đó có các dân tộc rất ít người,
chủ yếu thụ hưởng các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, giáo dục, y
tế và phát triển hạ tầng, qua đó giải quyết những nhu cầu cơ bản về sinh kế và
an sinh. Từ giai đoạn 2011-2015, chính sách dân tộc được thể chế hoá mạnh mẽ
hơn với hệ thống hàng trăm văn bản quy phạm, bao phủ đa lĩnh vực và được phân
nhóm theo dân tộc, theo vùng và theo ngành, thể hiện bước chuyển từ hỗ trợ dàn
trải sang tiếp cận có trọng tâm, trọng điểm. Đến giai đoạn 2016-2020, xu hướng
tích hợp chính sách được đẩy mạnh, khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, đồng
thời hình thành các nhóm chính sách lớn về phát triển kinh tế, xã hội, nguồn
nhân lực, bảo tồn văn hoá và củng cố hệ thống chính trị cơ sở (Phạm Thị Phương
Thái, chủ nhiệm, 2020).
Đặc biệt, từ thập niên 2010 trở lại
đây, Nhà nước đã từng bước thiết kế các chính sách đặc thù dành riêng cho các
dân tộc rất ít người, tiêu biểu như Quyết định số 2086/QĐ-TTg (2016) về hỗ trợ
phát triển kinh tế – xã hội các dân tộc rất ít người giai đoạn 2016 - 2025. Các
chính sách này không chỉ tập trung vào giảm nghèo và phát triển hạ tầng, mà còn
nhấn mạnh bảo tồn, phục dựng và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, hỗ
trợ duy trì ngôn ngữ, đào tạo cán bộ là người dân tộc và củng cố thiết chế cộng
đồng. Cách tiếp cận này cho thấy rõ sự chuyển dịch từ logic “phát triển thuần
tuý” sang mô hình phát triển tích hợp, trong đó văn hoá được nhìn nhận như một
nguồn lực nội sinh của phát triển, thay vì một yếu tố cần bị thay thế.
Trong bối cảnh đó, những biến đổi
văn hoá ở các cộng đồng dân tộc thiểu số là hiện tượng có thật, nhưng không thể
quy giản thành hệ quả trực tiếp của một chủ đích “đồng hoá” từ phía chính sách.
Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng các thách thức về ngôn ngữ, giáo dục hay bản
sắc phản ánh sự tương tác phức tạp giữa toàn cầu hoá, thị trường và điều kiện
tiếp cận nguồn lực của các nhóm xã hội (Nguyen, A. H., 2020; Nguyen, T. T.,
& Tran, D. H., 2022); Le, A. T., Nguyen, H. T., & Tran, V. B., 2024).
Do đó, việc quy chiếu toàn bộ biến đổi văn hoá về một logic chính sách đơn tuyến
không chỉ giản lược thực tiễn, mà còn bỏ qua quá trình hoàn thiện liên tục của
hệ thống chính sách dân tộc theo hướng tôn trọng khác biệt và phát triển bao
trùm.
Về tổng thể, có thể khẳng định rằng
nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong đường lối của Đảng không chỉ mang ý nghĩa
chuẩn tắc, mà đã được cụ thể hoá thành một hệ thống chính sách đa tầng, đa lĩnh
vực và ngày càng thích ứng với đặc thù của từng nhóm dân tộc. Chính tiến trình
này tạo cơ sở thực tiễn để bác bỏ các luận điểm quy kết “đồng hoá văn hoá”, đồng
thời khẳng định bản chất của mô hình phát triển ở Việt Nam là kết hợp giữa thu
hẹp khoảng cách phát triển và bảo tồn, phát huy đa dạng văn hoá trong khuôn khổ
một quốc gia thống nhất.
2. Thực tiễn triển khai chính sách
phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo tồn văn hoá đối với các dân tộc rất ít
người
Nếu nguyên tắc
bình đẳng dân tộc được xác lập ở phương diện lý luận như một định hướng xuyên
suốt, thì trong thực tiễn, nguyên tắc đó được cụ thể hoá thông qua một hệ thống
chính sách đặc thù đối với các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc rất ít
người như Brâu và Rơ-măm, những cộng đồng có quy mô dân số nhỏ, điều kiện phát
triển hạn chế và mức độ dễ tổn thương cao trước các biến động kinh tế - xã hội.
Chính trong không gian thực tiễn này, việc đối chiếu giữa thiết kế chính sách
và đời sống cộng đồng cho phép nhận diện rõ hơn bản chất của quá trình phát triển:
liệu đó có phải là “đồng hoá văn hoá”, hay là một quá trình thích ứng trong điều
kiện phát triển.
Dân tộc Brâu và Rơ-măm là hai
trong 14 dân tộc có dân số dưới 10.000 người của Việt Nam và cũng là hai dân tộc
có dân số rất ít, dưới 1.000 người (Bùi Thị Bích Lan, chủ biên, 2021). Mỗi một
dân tộc này lại chỉ cư trú tập trung tại một làng, người Brâu cư trú tại thôn Đắk
Mế, xã Bờ Y và người Rơ-măm, cư trú tại thôn làng Le, xã Mô Rai, đều thuộc tỉnh
Quảng Ngãi. Với quy mô dân số đặc biệt nhỏ, phân bố tập trung trong phạm vi hẹp,
nên các dân tộc này có mức độ dễ tổn thương cao trước các biến động kinh tế -
xã hội. Trong bối cảnh phát triển và gia tăng giao lưu giữa các tộc người, các
cộng đồng này đang đối mặt với nhiều thách thức như thu hẹp không gian thực
hành văn hoá truyền thống, suy giảm sử dụng ngôn ngữ tộc người trong thế hệ trẻ,
cũng như áp lực từ các quan hệ liên tộc người ngày càng mở rộng. Tuy nhiên,
chính đặc điểm này cũng cho thấy rằng mọi biến đổi diễn ra trong cộng đồng
không thể được quy giản thành hệ quả của một chủ đích “đồng hoá văn hoá”, mà cần
được đặt trong tổng thể các điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể. Do đó, việc phân
tích thực tiễn chính sách đối với các cộng đồng như Brâu và Rơ-măm không chỉ nhằm
nhận diện tác động của phát triển, mà còn là cơ sở để kiểm chứng bản chất của
đường lối về bình đẳng dân tộc của Đảng trong thực tiễn.
2.1. Tác động của
chính sách đến đời sống kinh tế - xã hội của dân tộc Brâu và Rơ-măm
Trước ngày thống nhất đất nước,
hai dân tộc này cư trú ở vùng biên giới của ngã ba Đông Dương, nơi Việt Nam tiếp
giáp với cả Lào và Campuchia. Họ không có địa điểm định cư cố định mà di chuyển
giữa hai bên đường biên giới, dưới những cánh rừng già để đảm bảo an toàn trong
thời kỳ chiến tranh. Người Brâu có nhiều đồng tộc vẫn đang sinh sống ở Lào và
Campuchia trong khi người Rơ-măm thì có đồng tộc ở Campuchia (Nguyễn Thị Ngân,
Tô Thu Trang, 2009. Về cơ bản, sau chiến tranh và đến thời kỳ trước Đổi mới,
hai dân tộc này thực hành lối sống truyền thống, dựa trên canh tác nương rẫy và
khai thác tự nhiên là chính. Vì vậy, đời sống gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ đói
nghèo cao, một số nghề thủ công, đặc biệt như nghề dệt bị mai một.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà
nước đã triển khai một hệ thống chính sách có tính ưu tiên đặc biệt đối với các
dân tộc rất ít người. Các chương trình và đề án như Quyết định 2086/QĐ-TTg
(2016–2025), Nghị định 57/2017/NĐ-CP về hỗ trợ giáo dục, hay Chương trình mục
tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi (2021-2030) đã tập trung đầu tư vào hạ tầng, sinh kế, giáo dục và an sinh
xã hội. Riêng với nhóm dân tộc Brâu và Rơ-măm tại tỉnh Quảng Ngãi, nhiều đề án
đầu tư với tổng kinh phí nhiều tỷ đồng đã được triển khai nhằm cải thiện toàn
diện điều kiện phát triển (cả hai dân tộc) và mới đây nhất là dự án 6 và tiểu dự
án 9, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền
núi giai đoạn 2021-2025; giai đoạn 2026-2030 (dân tộc Rơ-măm).
Tác động của
hệ thống chính sách này đến đời sống kinh tế - xã hội được phản ánh tương đối
rõ trong thực tiễn tại các cộng đồng dân tộc rất ít người. Đối với người Brâu,
thu nhập bình quân đã tăng đáng kể, từ khoảng 720.000 đồng/người/năm vào năm
2005 lên 24,6 triệu đồng/người/năm vào năm 2021, đồng thời cơ cấu sinh kế cũng
trở nên đa dạng hơn, không chỉ dựa vào nông nghiệp truyền thống mà còn mở rộng
sang lao động làm thuê và di cư lao động. Cùng với đó, hệ thống hạ tầng cơ sở
như điện, đường, trường, trạm được cải thiện rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng
sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (Nguyễn
Thị Tám, chủ nhiệm, 2024).
Tại cộng đồng Rơ-măm, các chương
trình đầu tư của Nhà nước từ giữa những năm 2000 đến nay cũng tạo ra những chuyển
biến tích cực trên nhiều phương diện. Đến năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống
còn 3,6%, hộ cận nghèo còn 11,4%, trong khi thu nhập bình quân đầu người đạt
khoảng 20 triệu đồng/người/năm. Điều kiện kinh tế của một bộ phận hộ gia đình
đã được cải thiện, thể hiện qua việc sở hữu các phương tiện sản xuất như xe
công nông, xe tải phục vụ sinh kế. Đồng thời, khả năng tiếp cận giáo dục và an
sinh xã hội được nâng lên đáng kể: trẻ em trong cộng đồng đều được đến trường,
được hỗ trợ sách vở và bảo hiểm y tế, và đã xuất hiện những trường hợp học sinh
theo học tại các cơ sở giáo dục đại học. Những cải thiện về hạ tầng và môi trường
sống, như đường làng, ngõ xóm được nâng cấp khang trang, cũng phản ánh rõ nét
hiệu quả của các chính sách phát triển (Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng
Ngãi, 2026). Tuy nhiên, từ góc nhìn thực địa, quá trình này không diễn ra một
cách tuyến tính hay đồng đều. Một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý trông chờ,
phụ thuộc vào chính sách; việc sử dụng vốn hỗ trợ chưa hiệu quả; thậm chí có
trường hợp tiêu dùng không đúng mục đích hoặc thiếu kỹ năng sản xuất. Những hạn
chế này cho thấy phát triển không chỉ phụ thuộc vào đầu tư, mà còn liên quan đến
năng lực tiếp nhận và điều kiện xã hội cụ thể của cộng đồng. Điều quan trọng
là: chính sách không nhằm áp đặt một mô hình phát triển đồng nhất, mà tạo điều
kiện để các cộng đồng từng bước tiếp cận nguồn lực và lựa chọn con đường phát
triển phù hợp. Sự đa dạng trong kết quả và cách thức thích ứng chính là biểu hiện
của bình đẳng thực chất, chứ không phải là đồng hoá.
2.2. Tái cấu trúc văn
hoá tộc người dưới tác động của chính sách
Từ góc độ nhân học, những biến đổi
văn hoá tại các cộng đồng dân tộc rất ít người như Brâu và Rơ-măm có thể được
hiểu không phải như sự “mất đi” hay “thay thế” đơn tuyến, mà như một quá trình
tái cấu trúc văn hoá (cultural reconfiguration). Cách tiếp cận này, gợi mở từ
các nghiên cứu về biến đổi văn hoá và tính lai ghép (Appadurai, A., 1996), nhấn
mạnh rằng văn hoá luôn vận động trong tương tác với các điều kiện kinh tế - xã
hội và thể chế, trong đó các yếu tố truyền thống được lựa chọn, điều chỉnh và
tái định dạng trong bối cảnh mới. Thực tiễn tại hai cộng đồng Brâu và Rơ-măm
cho thấy rõ tính chất đa chiều của quá trình này dưới tác động của hệ thống
chính sách dân tộc.
Trước hết, ở cả hai trường hợp,
chính sách đã can thiệp trực tiếp vào việc tái thiết lập các thiết chế và thực
hành văn hoá cốt lõi. Với người Brâu, từ khi thực hiện định canh, định cư tại
làng Đắk Mế từ đầu thập niên 1990, không gian cư trú truyền thống đã được tổ chức
lại theo mô hình làng mới. Tuy nhiên, song song với quá trình này, các chính
sách “bảo tồn có chọn lọc” đã tập trung phục hồi nhà rông - thiết chế trung tâm
của đời sống cộng đồng - thông qua nhiều lần xây dựng, tu sửa (1993, 2000,
2010, 2018), phục dựng các nghi lễ quan trọng như lễ tỉa lúa, lễ cầu mưa (Lê Thị
Hường, Nguyễn Thị Tám, 2024), phục hồi nghề dệt, lớp học cồng chiêng, múa
xoang, hát dân ca (Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi, 2026).
Tương tự, tại cộng đồng Rơ-măm,
các hoạt động truyền dạy và phục dựng văn hoá được tổ chức một cách có hệ thống,
từ các lớp học cồng chiêng, múa xoang, hát dân ca, đến dệt và đan lát với sự
tham gia của nghệ nhân và người dân trong cộng đồng. Đồng thời, các thực hành
văn hoá còn được tái hiện trong không gian nhà rông thông qua các chương trình
trình diễn, cũng như được tư liệu hoá dưới dạng phim, phóng sự và mã hoá số - QR
code (Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi (2026). Những hoạt động
này cho thấy một xu hướng chung: văn hoá không chỉ được duy trì trong đời sống
thường nhật, mà còn được chuẩn hoá, phục dựng và tái hiện trong các thiết chế mới,
gắn với quản lý nhà nước và truyền thông hiện đại.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là quá
trình tái cấu trúc này không diễn ra theo hướng phục hồi nguyên trạng, mà đi
kèm với sự chuyển đổi về hình thức và chức năng của các yếu tố văn hoá. Nhiều
thực hành vốn gắn với chu kỳ sản xuất nông nghiệp hoặc đời sống tín ngưỡng nay
dần mất đi môi trường tồn tại tự nhiên, do thay đổi phương thức sinh kế và
không gian cư trú. Một số nghi lễ được phục dựng trong bối cảnh trình diễn hoặc
sự kiện, mang tính biểu tượng nhiều hơn là thực hành sống. Ở dân tộc Rơ-măm,
các lớp truyền dạy cho thấy sự phân hoá thế hệ rõ rệt: thanh thiếu niên tiếp cận
các hình thức trình diễn (cồng chiêng, múa), trong khi các tri thức như nghề dệt,
hát dân ca vẫn chủ yếu do nhóm trung niên nắm giữ. Ở dân tộc Brâu, dữ liệu điều
tra năm 2023 cho thấy 100% người được hỏi sử dụng thành thạo tiếng phổ thông -
một chỉ báo quan trọng của hội nhập xã hội, nhưng đồng thời cũng phản ánh nguy
cơ suy giảm vai trò của tiếng mẹ đẻ trong đời sống thường nhật (Nguyễn Thị Tám, chủ nhiệm, 2024).
Bên cạnh đó, các chính sách phát
triển kinh tế - xã hội (hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế…) đã tạo ra những điều
kiện vật chất mới, làm thay đổi căn bản môi trường tồn tại của văn hoá. Ở người
Brâu, việc đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, trang thiết bị văn hoá và phục
dựng lễ hội cho thấy văn hoá được tích hợp vào các chương trình phát triển như
một nguồn lực nội sinh. Với người Rơ-măm, các hoạt động trình diễn, truyền dạy
và truyền thông hoá di sản cũng cho thấy sự kết nối ngày càng chặt chẽ giữa văn
hoá và các lĩnh vực như giáo dục, truyền thông và du lịch. Điều này phản ánh một
xu hướng chung: văn hoá không còn tồn tại biệt lập, mà được tái định vị trong mối
quan hệ với thị trường, nhà nước và các thiết chế hiện đại.
Từ hai trường hợp trên, có thể thấy
rằng biến đổi văn hoá ở các cộng đồng dân tộc rất ít người không thể được giản
lược thành một quá trình “đồng hoá văn hoá” theo nghĩa xoá bỏ và thay thế. Ngược
lại, đó là một quá trình tái cấu trúc đa tầng, trong đó các yếu tố truyền thống
vừa được phục hồi và thể chế hoá thông qua chính sách, vừa bị điều chỉnh và tái
định dạng dưới tác động của những biến đổi kinh tế - xã hội và giao lưu văn
hoá. Chính trong sự đan xen giữa phục hồi và biến đổi, giữa truyền thống và hiện
đại, văn hoá tộc người tiếp tục tồn tại và vận động trong những hình thức mới.
3. Bình đẳng dân tộc trong tư tưởng
chính sách và cách tiếp cận diễn giải biến đổi văn hoá
Trên phương diện tư tưởng, chính
sách dân tộc của Đảng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và hỗ trợ các dân tộc cùng phát triển. Bình đẳng dân tộc ở đây không đồng nhất
với sự đồng nhất hoá văn hoá, mà được hiểu là quyền phát triển trong đa dạng, đồng
thời bảo tồn và phát huy bản sắc riêng của từng tộc người trong một chỉnh thể
quốc gia thống nhất. Từ thời kỳ Đổi mới đến nay, các chính sách dân tộc được
triển khai theo hướng kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo tồn văn
hoá, thể hiện qua hệ thống chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách đặc
thù dành cho các dân tộc rất ít người.
Đối chiếu giữa chính sách và thực
tiễn tại các cộng đồng như Brâu và Rơ-măm cho thấy không tồn tại một logic “đồng
hoá cưỡng bức” trong quá trình phát triển. Ngược lại, chính sách thực tế được
thiết kế theo hướng ưu tiên đặc thù, đầu tư có trọng điểm, đồng thời kết hợp giữa
nâng cao đời sống vật chất và bảo tồn văn hoá. Nhà nước không chỉ hỗ trợ phát
triển kinh tế - xã hội mà còn đầu tư cho phục dựng lễ hội, bảo tồn ngôn ngữ,
xây dựng thiết chế văn hoá cộng đồng, cũng như truyền dạy và duy trì các thực
hành văn hoá truyền thống. Điều này cho thấy không có một mô hình văn hoá đơn
nhất được áp đặt, mà là sự tồn tại song song giữa biến đổi xã hội và nỗ lực tái
tạo văn hoá.
Trường hợp dân tộc Brâu và Rơ-măm
với việc phục dựng nhà rông và duy trì lễ hội truyền thống, truyền dạy cồng
chiêng, múa xoang và trình diễn văn hoá, cho thấy văn hoá tộc người không bị
xoá bỏ mà đang được tái định dạng trong bối cảnh mới. Những biến đổi trong hình
thức biểu đạt văn hoá, từ sinh hoạt thường nhật sang trình diễn, từ truyền khẩu
sang tư liệu hoá, không đồng nghĩa với đồng hoá, mà phản ánh quá trình thích ứng
trong điều kiện kinh tế - xã hội mới.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng ghi nhận
một số hạn chế trong triển khai chính sách, như đầu tư chưa đồng đều, thiếu
chuyên môn sâu hoặc phát sinh tâm lý phụ thuộc. Những vấn đề này cần được nhìn
nhận như giới hạn của quá trình thực thi chính sách, chứ không phải bằng chứng
cho chủ đích “đồng hoá văn hoá”.
Từ đó có thể khẳng định rằng, biến
đổi văn hoá trong các cộng đồng dân tộc rất ít người là kết quả của một quá
trình tương tác phức hợp giữa chính sách phát triển, điều kiện thị trường và
năng lực thích ứng của cộng đồng. Việc quy giản toàn bộ quá trình này thành “đồng
hoá văn hoá” không chỉ thiếu cơ sở thực tiễn mà còn bỏ qua những nỗ lực nhất
quán của Nhà nước trong việc kết hợp phát triển với bảo tồn văn hoá. Chính thực
tiễn này là cơ sở để khẳng định tính đúng đắn của nguyên tắc bình đẳng dân tộc
trong đường lối của Đảng, đồng thời bác bỏ các cách diễn giải mang tính giản lược
về chính sách dân tộc ở Việt Nam.
Kết luận
Từ những phân tích về mối quan hệ
giữa chính sách dân tộc và thực tiễn biến đổi văn hoá tại các cộng đồng Brâu và
Rơ-măm, có thể rút ra một số nhận định khái quát. Trước hết, các chính sách dân
tộc của Việt Nam được xây dựng và triển khai trên nền tảng nhất quán của nguyên
tắc bình đẳng dân tộc, thể hiện qua định hướng tôn trọng sự đa dạng văn hoá, bảo
đảm quyền phát triển của các tộc người và thúc đẩy sự gắn kết trong chỉnh thể
quốc gia thống nhất. Nguyên tắc này được cụ thể hoá bằng các chương trình phát
triển kinh tế – xã hội kết hợp với bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền
thống, đặc biệt đối với các dân tộc rất ít người.
Thứ hai, đối chiếu với thực tiễn tại
cộng đồng Brâu và Rơ-măm cho thấy không tồn tại một quá trình “đồng hoá văn
hoá” mang tính chính sách như một số cách diễn giải đã nêu. Ngược lại, có thể
nhận diện một quá trình vừa biến đổi vừa tái tạo văn hoá, trong đó Nhà nước
đóng vai trò hỗ trợ thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hoá, phục dựng
lễ hội, truyền dạy nghệ thuật truyền thống và bảo tồn ngôn ngữ. Những biến đổi
trong đời sống văn hoá chủ yếu là kết quả của sự tương tác giữa phát triển kinh
tế – xã hội, hội nhập và năng lực thích ứng nội sinh của cộng đồng, chứ không
phải sự áp đặt nhằm xoá bỏ bản sắc tộc người.
Từ đó, có thể khẳng định rằng luận
điểm quy kết toàn bộ quá trình biến đổi văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam như một hình thức “đồng hoá văn hoá” là thiếu cơ sở thực tiễn và chưa phản
ánh đúng bản chất của chính sách dân tộc hiện hành. Thực tiễn chính sách cho thấy
sự nhất quán trong việc kết hợp giữa phát triển và bảo tồn, qua đó củng cố tính
đúng đắn của nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong đường lối của Đảng.
Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của
các chính sách đối với các dân tộc rất ít người như Brâu và Rơ-măm, cần chú ý một
số khuyến nghị sau:
Thứ nhất, cần tăng cường tính đặc
thù và linh hoạt trong thiết kế chính sách, bảo đảm các can thiệp phát triển
phù hợp với điều kiện sinh kế, không gian cư trú và cấu trúc xã hội riêng của từng
cộng đồng. Tránh áp dụng các mô hình phát triển đồng nhất vốn có nguy cơ làm
suy giảm tính bền vững của các thực hành văn hoá tộc người.
Thứ hai, nâng cao chất lượng công
tác bảo tồn văn hoá theo hướng gắn với đời sống cộng đồng thay vì chỉ tập trung
vào hình thức trình diễn. Việc phục dựng lễ hội, nhà rông hay truyền dạy cồng
chiêng cần được đặt trong bối cảnh duy trì chức năng xã hội thực sự của các thiết
chế văn hoá, tránh xu hướng “bảo tàng hoá” văn hoá tộc người.
Thứ ba, tăng cường đào tạo và sử dụng
đội ngũ cán bộ văn hoá tại chỗ, ưu tiên người địa phương tham gia vào quá trình
xây dựng, triển khai và giám sát chính sách. Điều này không chỉ nâng cao hiệu
quả thực thi mà còn góp phần củng cố năng lực tự quản văn hoá của cộng đồng.
Thứ tư, cần chú
trọng hơn đến các giải pháp phát triển sinh kế bền vững gắn với văn hoá, như du
lịch cộng đồng, sinh kế truyền thống và các mô hình sản xuất phù hợp, qua đó tạo
nền tảng kinh tế để văn hoá có thể được duy trì một cách tự nhiên.
Tổng thể, việc kết hợp hài hoà giữa
phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hoá không chỉ là yêu cầu chính sách,
mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của các cộng đồng
dân tộc rất ít người. Đây cũng là cơ sở thực tiễn khẳng định tính đúng đắn, nhất
quán của nguyên tắc bình đẳng dân tộc trong đường lối của Đảng, đồng thời mở ra
những định hướng điều chỉnh chính sách theo hướng ngày càng phù hợp và hiệu quả
hơn trong giai đoạn hiện nay.
Tài liệu tham khảo
1.
Appadurai, A. (1996), Modernity
at large: Cultural dimensions of globalization, University of Minnesota
Press.
2.
Đảng Cộng sản Việt Nam
(2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011), Hà Nội.
3.
Đảng Cộng sản Việt Nam
(2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật.
4.
Đảng Cộng sản Việt Nam
(2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật.
5.
Evans, G. (1995), The
Vietnamese solution: Vietnam and Cambodia, 1978–1989, Monthly Review Press.
6.
Hardy, A. (2003), Red
hills: Migrants and the state in the highlands of Vietnam, National
University of Singapore Press.
7.
Hannerz, U. (1992), Cultural
complexity: Studies in the social organization of meaning, Columbia University
Press.
8.
Lê Thị Hường, Nguyễn
Thị Tám (2024), “Thực trạng biến đổi nhà rông của người Brâu ở tỉnh Kon Tum”, Tạp
chí Dân tộc học, số 2, 98–110.
9.
Bùi Thị Bích Lan (Chủ
biên, 2021), Một số vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hoá
truyền thống các dân tộc rất ít người ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Văn hoá Dân
tộc.
10.
Le, A. T., Nguyen, H. T., & Tran, V. B.
(2024), Perspectives of ethnic minority students in Northern Vietnam, Pavlo
Johansen Library Science Serbii, 2(2), 23264–23275.
11.
McElwee, P. (2004), Becoming socialist or
becoming Kinh? Government policies for ethnic minorities in the Socialist
Republic of Viet Nam, In C. R. Duncan (Ed.), Civilizing the margins:
Southeast Asian government policies for the development of minorities (pp.
182–213), NUS Press.
12.
Nguyen, A. H. (2020), Inequality in ethnic
representation in secondary-school literature (Honors project), Bridgewater
College Digital Commons. https://digitalcommons.bridgewater.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1011&context=honors_projects
13.
Nguyen, T. T., & Tran, D. H. (2022),
“Educational linguicism: Linguistic discrimination against minority students in
Vietnamese mainstream schools”, Language Policy, 21(3), 445–467. https://eric.ed.gov/?id=EJ1339268
14.
Nguyễn Thị Ngân, Tô Thị Thu Trang (2009), Văn
hoá Rơ măm, Nxb. Văn hoá dân tộc.
15.
Nguyễn Thị Tám (Chủ nhiệm, 2024), Biến đổi
văn hoá tộc người Brâu ở vùng biên giới tỉnh Kon Tum hiện nay (Báo cáo tổng
hợp đề tài cấp Bộ 2023–2024), Viện Dân tộc học và Tôn giáo học (lưu trữ).
16.
Phạm Thị Phương Thái (Chủ nhiệm, 2020), Những
giải pháp cơ bản, cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách bảo tồn và
phát triển các dân tộc thiểu số rất ít người ở nước ta hiện nay (Báo cáo đề
tài cấp Nhà nước, mã số CTDT.42.18/16–20).
17.
Salemink, O. (2003), The ethnography of
Vietnam’s Central Highlanders: A historical contextualization, 1850–1990,
University of Hawai‘i Press.
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng
Ngãi (2026), Báo cáo kết quả khôi phục, bảo tồn và phát triển bản sắc văn
hóa truyền thống của dân tộc Rơ Măm, Làng Le, xã Mô Rai, tỉnh Quảng Ngãi.