Các tôn giáo ở Việt Nam
Theo Sổ tay công tác Tôn giáo của Ban Tôn giáo Chính phủ phát hành năm 2024, Việt Nam có 16 tôn giáo với 36 tổ chức tôn giáo. Các tôn giáo gồm: Phật giáo, Công giáo, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tôn giáo Baha’i, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Giáo hội Phật đường Nam Tông Minh sư đạo, Hội thánh Minh lý đạo - Tam Tông miếu, đạo Bà-la-môn giáo, Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn. Đây là những minh chứng để nhận diện rõ bức tranh đa dạng tôn giáo ở Việt Nam.
Theo thông tin từ Ban Tôn giáo Chính phủ, đến ngày 31/12/2021, cả nước có trên 26,5 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số; có hơn 54.000 chức sắc, khoảng 135.000 chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự[1]. Ngoài ra, còn có hàng nghìn điểm, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung đang hoạt động theo quy định của pháp luật. Những số liệu này cho thấy tôn giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và xã hội của một bộ phận người dân Việt Nam.
Một đặc điểm nổi bật của các tôn giáo ở Việt Nam là dù đa dạng nhưng không có xung đột tôn giáo. Người theo các tôn giáo khác nhau và người không theo tôn giáo cùng chung sống hòa hợp, có quan hệ xã hội rộng mở trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đây là một đặc điểm quan trọng, phản ánh truyền thống đoàn kết, khoan dung và khả năng dung nạp văn hóa của xã hội Việt Nam. Mặt khác, các tôn giáo ở Việt Nam cũng không tồn tại tách rời khỏi dân tộc. Trong quá trình lịch sử, các tôn giáo đều có sự thích ứng với hoàn cảnh đất nước, với văn hóa dân tộc và với đời sống cộng đồng. Quá trình đó tạo nên những sắc thái riêng của tôn giáo ở Việt Nam. Cũng từ thực tiễn lịch sử ấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định một quan điểm nhất quán: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc nhìn nhận đúng vị trí của các tôn giáo vì thế không chỉ có ý nghĩa về nhận thức, mà còn có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác tôn giáo và xây dựng khối đoàn kết dân tộc.
Về phương diện pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được Hiến pháp và pháp luật bảo đảm. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Trên cơ sở đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định cụ thể về đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo, đào tạo, phong phẩm, xây dựng cơ sở thờ tự, hoạt động xuất bản, hoạt động từ thiện, nhân đạo và quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo. Hệ thống pháp luật này là cơ sở để các tôn giáo hoạt động ổn định, công khai, đúng pháp luật.
Nhiều năm qua, nhất là từ khi Đảng thực hiện đường lối Đổi mới, các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng mở rộng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Nhiều tổ chức tôn giáo tham gia vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Nhiều chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động hỗ trợ cộng đồng, chăm lo an sinh xã hội, ứng phó với thiên tai, dịch bệnh. Điều đó cho thấy tôn giáo không chỉ là nhu cầu tinh thần, mà còn có thể trở thành một nhân tố xã hội quan trọng trong phát triển con người và xã hội.
Có thể thấy, bức tranh các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đa dạng về nguồn gốc, phong phú về loại hình, ổn định về tổ chức và ngày càng rõ hơn về địa vị pháp lý. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo và thực hiện hiệu quả chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
[1] Ban Tôn giáo Chính phủ (2022), Tôn giáo và chính sách Tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 12.