image banner
VI | EN
Thành tựu nghiên cứu

Trước khi hợp nhất vào ngày 01/4/2025, trên chặng đường xây dựng và phát triển, tập thể cán bộ, viên chức của Viện Dân tộc học và Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã liên tục phấn đấu để hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao, xứng đáng là những Viện nghiên cứu chuyên ngành của cả nước. Những đóng góp khoa học của 2 đơn vị trong những năm qua thể hiện trên nhiều lĩnh vực, trong đó nổi bật là nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực, góp phần thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.

Những thành tựu của Viện Dân tộc học

Từ tổ Dân tộc học thuộc Viện Sử học năm 1960, đến năm 1964 là Tổ Dân tộc học trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Viện Dân tộc học chính thức được thành lập theo Nghị định số 59/CP ngày 14 tháng 5 năm 1968 của Hội đồng Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký. Trong quá trình xây dựng và phát triển (1968-2025), Viện Dân tộc học đã trải qua một chặng đường dài nghiên cứu, trưởng thành nhanh chóng với tư cách là cơ quan nghiên cứu chuyên ngành hàng đầu của cả nước về dân tộc học. Những thành tựu khoa học mà Viện đã đạt được rất phong phú, to lớn và đáng tự hào; được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, trong đó về cơ bản được phản ánh ở một số thành tựu chủ yếu sau: 

Thứ nhất, không chỉ tiến hành nghiên cứu cơ bản và có hệ thống về các tộc người ở nước ta để góp phần hoàn thành Bảng Danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam được Nhà nước chính thức công bố năm 1979 và sử dụng đến nay, mà còn tiếp tục cung cấp luận cứ khoa học, góp phần nâng cao nhận thức lý luận và thực tiễn về những động thái mới của quá trình tộc người nảy sinh trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; từng bước làm rõ bản chất của quá trình thay đổi tộc danh và thành phần dân tộc ở một số dân tộc thiểu số hay nhóm địa phương kể từ khi có Bảng Danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam đến nay. Trong đó, những nhu cầu thay đổi tộc danh và thành phần dân tộc nảy sinh là do sự trỗi dậy của ý thức tự giác dân tộc, tác động của những chính sách phát triển các dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ Đổi mới, ảnh hưởng của các vấn đề dân tộc và tộc người trên thế giới,... Những kết quả nghiên cứu này đóng góp thiết thực cho các cơ quan quản lý Nhà nước về dân tộc trong việc xử lý kịp thời những vấn đề nảy sinh liên quan đến tộc danh và thành phần dân tộc của một số dân tộc và nhóm địa phương, nhất là trong xây dựng và thực hiện các chính sách dân tộc nói chung và từng lĩnh vực nói riêng, góp phần củng cố sự bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và cùng phát triển giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc.

Thứ hai, góp phần luận giải sâu sắc hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về các mối quan hệ dân tộc ở nước ta trong tiến trình phát triển đất nước, nhất là trong điều kiện mới hiện nay. Trong đó, tập trung làm nổi bật 4 mối quan hệ chủ yếu sau: 1) Quan hệ giữa các dân tộc với hệ thống chính trị các cấp, tức với dân tộc - quốc gia Việt Nam; 2) Quan hệ giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số; 3) Quan hệ giữa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; và 4) Quan hệ liên biên giới, xuyên quốc gia của các dân tộc ở Việt Nam với các đồng tộc và dân tộc khác sinh sống ở những quốc gia khác. Các kết quả nghiên cứu đã góp phần làm rõ sự bình đẳng, đoàn kết, hợp tác trong nội bộ tộc người và giữa các tộc người vẫn là xu hướng chủ đạo, xuyên suốt các mối quan hệ dân tộc ở nước ta trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đồng thời, cũng chỉ ra những vấn đề mới nảy sinh từ quan hệ dân tộc, trong đó đáng chú ý là việc xuất hiện tư tưởng phân ly, bất đồng cục bộ ở một số tộc người tại những địa bàn chiến lược, đa tộc người, đa tôn giáo, vùng biên giới.

Thứ ba, các kết quả nghiên cứu đã góp phần làm rõ hơn quá trình chuyển đổi từ tín ngưỡng truyền thống sang một số tôn giáo lớn và hiện tượng tôn giáo mới ở một số vùng và dân tộc, để từ đó hình thành các cộng đồng tôn giáo theo tộc người và liên tộc người, ở trong vùng và liên vùng, không chỉ ở trong nước mà còn liên biên giới, xuyên quốc gia, nhất là xu hướng cải đạo sang Tin Lành của một bộ phận người dân một số dân tộc thiểu số diễn ra mạnh mẽ trong khoảng gần 40 năm qua.

Thứ tư, góp phần cung cấp luận cứ khoa học khẳng định vị trí, vai trò của các tộc người trong sự phát triển của dân tộc - quốc gia Việt Nam. Theo đó, người Việt (Kinh) với vai trò là dân tộc đa số đã cùng các dân tộc thiểu số anh em xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước nói chung và các vùng miền nói riêng. Thực tế cho thấy, vai trò quan trọng của người Kinh đối với ổn định chính trị, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, phát triển toàn diện kinh tế, xă hội, văn hóa, môi trường và bảo đảm an ninh quốc phòng ở vùng các dân tộc thiểu số, biên giới và hải đảo. Các nghiên cứu đã đi sâu phân tích, làm rõ quá trình chuyển đổi và thích nghi của cộng đồng người Kinh với sự đa dạng về điều kiện sinh thái, tộc người và văn hóa ở các vùng, miền. Cộng đồng người Kinh còn tạo ra những động lực, ảnh hưởng tích cực đối với phát triển các dân tộc thiểu số. Từ những đóng góp đó, người Kinh ngày càng khẳng định vững chắc vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, xây dựng khối đoàn kết dân tộc, là nhân tố chủ đạo trong việc gắn kết và phát triển các tộc người trên phạm vi cả nước trong mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử.

Thứ năm, góp phần nghiên cứu, đánh giá chính sách và thực hiện chính sách dân tộc; cung cấp luận cứ khoa học nhằm đổi mới chính sách dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta, nhất là trong tình hình mới hiện nay. Các kết quả nghiên cứu đã góp phần phản biện, tư vấn khoa học và không chỉ bước đầu khắc phục được cách tiếp cận, đánh giá chính sách thiên về những ưu điểm mà còn chỉ ra những hạn chế trong xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, như còn chồng chéo, dàn trải, thiếu tính thực tế và khả thi, chịu ảnh hưởng của các định kiến về tộc người và địa phương,... Đặc biệt, các nghiên cứu đã tập trung phân tích làm nổi bật tầm quan trọng của chính sách dân tộc và công tác dân tộc ở một quốc gia đa tộc người. Việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc có liên quan chặt chẽ đến vận mệnh quốc gia - dân tộc và các tộc người, có thể tạo nên sự ổn định nhưng cũng có thể làm bùng phát những vấn đề phức tạp, thậm chí gây hậu quả khôn lường, cản trở sự phát triển của các tộc người và thống nhất của cộng đồng dân tộc - quốc gia Việt Nam.

Thứ sáu, góp phần nghiên cứu, đánh giá về vai trò của văn hóa tộc người trong phát triển bền vững. Các công trình nghiên cứu đã đi sâu lý giải mối quan hệ giữa văn hóa tộc người với văn hóa vùng và văn hóa quốc gia, bước đầu làm rõ những nét đặc trưng nổi bật của văn hóa tộc người, các vùng văn hóa và tiểu vùng văn hóa ở nước ta cũng như những xu hướng biến đổi văn hóa dưới tác động của quá trình phát triển và toàn cầu hóa, nhất là tác động về văn hóa của dân tộc đa số và từ thế giới bên ngoài. Trên cơ sở đó, có những đóng góp quan trọng trong việc làm rõ vai trò và ảnh hưởng của văn hóa tộc người đối với sự phát triển của từng cộng đồng, các nhóm xã hội/dân cư, nhất là vai trò của tri thức tộc người đối với việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý xã hội, phát triển kinh tế, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người cũng như giải quyết những bất cập của một số thành tố văn hóa tộc người trong mối quan hệ với việc quản lý, phát triển các tộc người theo Hiến pháp và pháp luật.

Thứ bảy, cung cấp luận cứ khoa học cho việc thực hiện và bảo đảm quyền của các tộc người ở nước ta trong bối cảnh mới. Những kết quả nghiên cứu có đóng góp thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần xây dựng các đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc; cung cấp luận cứ khoa học và nâng cao nhận thức, xây dựng hệ thống lý luận và quan điểm về nhân quyền và quyền tự quyết của các tộc người trên lĩnh vực dân tộc, nhất là quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ với cộng đồng dân tộc - quốc gia mà tộc người đó là một thành viên; góp phần đấu tranh chống lại những âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch. Những nghiên cứu đã cho thấy, các thế lực thù địch thường lợi dụng những vấn đề về lịch sử tộc người; giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các tộc người; quyền hưởng dụng tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất, rừng và nước; vấn đề tôn giáo tín ngưỡng; những bất cập trong việc hoạch định và thực hiện chính sách gắn với sự hạn chế, yếu kém của hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở; những khác biệt giữa Hiến pháp, luật pháp quốc gia với các Hiến chương, Công ước, Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc và những luật tục, quy ước riêng của các tộc người... để chống phá nước ta.

Thứ tám, góp phần nghiên cứu lý luận và thực tiễn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhất là chuyển đổi sinh kế gắn với đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số. Những kết quả nghiên cứu đã khẳng định, việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và nhiều chính sách khác của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Qua đó, góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân, từng bước xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ ở vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ rõ, công tác xóa đói giảm nghèo vẫn còn những hạn chế và bất cập cần phải khắc phục.

Thứ chín, góp phần làm rõ những động thái mới về dân số và tác động của các yếu tố phân bố dân cư, dân tộc đến hưởng dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý xã hội và phát triển kinh tế. Việc di dân có tổ chức và di dân tự phát trong những thập kỷ qua đến vùng miền núi và dân tộc thiểu số đã làm thay đổi đáng kể sự phân bố dân cư, dân tộc, cơ cấu dân số và làm gia tăng mật độ dân số, nhất là vùng Tây Nguyên. Vấn đề này đã và đang gây ra nhiều tác động cả tích cực và tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng nguồn tài nguyên thiên thiên của những địa phương tiếp nhận dân nhập cư, nhất là ngày càng gia tăng tình trạng bao chiếm, mua bán đất đai trái phép, phá rừng lấy đất sản xuất, khai thác lâm sản, săn bắt động vật quý hiếm trái phép, buôn lậu, gian lận thương mại, trộm cắp và một số loại hình tệ nạn xã hội khác. Bên cạnh vấn đề đất đai, các nguồn tài nguyên khác cũng bị chia sẻ, nhất là rừng và các nguồn lợi tự nhiên. Trong những năm qua, mặc dù có nhiều cố gắng trong bảo vệ rừng và trồng rừng, song nguồn tài nguyên này vẫn bị suy giảm nghiêm trọng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng giàu. Cùng với đó, biến đổi khí hậu đã dẫn tới hàng loạt các thiên tai và thảm họa môi trường như lũ lụt, hạn hán, sụt lở đất, mất cân bằng sinh thái, thiếu đất canh tác, thiếu tài nguyên thiết yếu phục vụ đời sống cho người dân,...

Với những đóng góp trên, Viện Dân tộc học đã vinh dự được Nhà nước Việt Nam trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Lao động Hạng Ba (1983), Huân chương Lao động Hạng Nhất (1998), Huân chương Độc lập Hạng Ba (2003), Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ (2017),…

Những thành tựu của Viện Nghiên cứu Tôn giáo

Viện Nghiên cứu Tôn giáo, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, được thành lập năm 1991, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự phát triển ngành Tôn giáo học ở Việt Nam. Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển cho đến trước khi hợp nhất, Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực nghiên cứu lý luận, thực tiễn, đào tạo, tư vấn chính sách và xuất bản học thuật liên quan đến tôn giáo.

Trước hết, một trong những đóng góp quan trọng hàng đầu của Viện là đặt nền móng cho ngành Tôn giáo học như một ngành khoa học độc lập tại Việt Nam. Ngay từ những năm đầu thành lập, Viện đã đi đầu trong việc tái định nghĩa và nhận thức lại các khái niệm cơ bản của Tôn giáo học như “tôn giáo”, “tín ngưỡng” “sự kiện tôn giáo”... Dưới sự dẫn dắt của các học giả  cũng là những lãnh đạo Viện qua nhiều thời kỳ, Viện đã tiếp cận đa chiều các lý thuyết tôn giáo học hiện đại từ Mác – Lênin đến Durkheim, Weber… và vận dụng vào bối cảnh Việt Nam, góp phần mở đường cho vận dụng lý thuyết khoa học trong nghiên cứu tôn giáo.

Trên phương diện nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Viện đã không ngừng khẳng định vai trò là trung tâm hàng đầu cả nước trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình hoạch định chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Các công trình của Viện đã góp phần quan trọng trong việc làm rõ cơ sở lý luận cho các văn kiện như Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1990 về công tác tôn giáo, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo (2004), Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (2016), đồng thời tham gia tư vấn, phản biện nhiều chính sách lớn của nhà nước liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng. Viện chủ trì và tham gia nghiên cứu nhiều đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ về chủ đề tôn giáo ở Việt Nam, đóng góp cả về lý luận khoa học và thực tiễn cho công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.

Về nghiên cứu chuyên ngành, Viện đã triển khai nhiều công trình mang tính nền tảng và có giá trị học thuật cao trên các lĩnh vực như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Tôn giáo nội sinh và tín ngưỡng dân gian. Trong lĩnh vực Phật giáo, Viện đã tập trung nghiên cứu hệ thống triết lý Phật giáo Việt Nam, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, các phong trào chấn hưng Phật giáo, và vai trò của Phật giáo trong đời sống chính trị - văn hóa dân tộc. Những công trình của nhà nghiên cứu trong Viện từ nhiều thế hệ đã góp phần làm sáng tỏ đặc điểm Phật giáo dân gian, Phật giáo nhập thế và Phật giáo mang tính dân tộc trong lịch sử.

Đối với Công giáo, Viện đã thực hiện nhiều nghiên cứu về quá trình truyền giáo, hội nhập văn hóa, cấu trúc tổ chức, vai trò xã hội và những biến đổi của Công giáo Việt Nam từ thời kỳ du nhập đến giai đoạn hiện nay. Các công trình được thực hiện đều có chiều sâu, góp phần định vị rõ hơn vai trò của Công giáo trong tiến trình hiện đại hóa, hội nhập văn hóa và phát triển quốc gia. Với Tin Lành, Viện đã từng bước triển khai các nghiên cứu về lịch sử truyền giáo Tin Lành tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên – nơi Tin Lành phát triển mạnh trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Các công trình đã tập trung làm rõ quá trình truyền đạo, hoạt động của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc và miền Nam), mối quan hệ giữa đạo Tin Lành với nhà nước và xã hội, cũng như những biến chuyển trong hoạt động truyền giáo sau Đổi mới. Viện cũng quan tâm đến các vấn đề về nhân sự, tổ chức, giáo dục đạo đức và hoạt động xã hội từ thiện của các cộng đồng Tin Lành.

Trong lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo nội sinh, đặc biệt là các tôn giáo ra đời tại Nam Bộ như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương… Viện là một trong những cơ quan đầu tiên tiến hành khảo sát, nghiên cứu từ góc nhìn học thuật từ sau Đổi mới. Từ những công trình công bố, xuất bản đã góp phần lý giải đặc điểm, mô hình tổ chức, giáo lý và chức năng xã hội của các tôn giáo bản địa, nhấn mạnh vai trò của chúng trong việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và đóng góp vào đời sống tinh thần ở Nam Bộ.

Bên cạnh đó, một hướng nghiên cứu nổi bật khác là tín ngưỡng dân gian. Các công trình của Viện đã khẳng định tín ngưỡng như một hình thái tôn giáo dân gian độc lập, với đầy đủ cấu trúc về niềm tin, thực thể thiêng, nghi lễ, cộng đồng và hệ thống biểu tượng. Việc nghiên cứu sâu sắc hiện tượng thờ Mẫu, lên đồng, thờ Thành hoàng… đã góp phần thay đổi nhận thức và xóa bỏ định kiến coi tín ngưỡng là “cấp thấp” hay “tiền tôn giáo”.

Với những đóng góp trên, Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã vinh dự được Nhà nước Việt Nam trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Lao động hạng Ba (2001), Huân chương Lao động hạng Nhì (2011), Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2010), Cờ thi đua của Chính phủ (2011)…

 

Tin liên quan
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1