Thực hiện nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở năm 2026 về “Di cư lao động của người Thái tại xã Na Mèo, tỉnh Thanh Hóa”, vừa qua, đoàn công tác của Viện Dân tộc học và Tôn giáo học tiến hành khảo sát thực địa tại xã Na Mèo, tỉnh Thanh Hóa nhằm tìm hiểu thực trạng, đặc điểm và những vấn đề đặt ra trong quá trình di cư lao động của đồng bào dân tộc Thái trên địa bàn.
Trong khuôn khổ chuyến công tác,
đoàn nghiên cứu làm việc, trao đổi với lãnh đạo Văn phòng UBND xã, Phòng Văn
hóa - Xã hội xã Na Mèo cùng trưởng bản Na Mèo nhằm thu thập thông tin thứ cấp
về tình hình di cư lao động của người dân địa phương. Na Mèo là xã vùng III,
biên giới của tỉnh Thanh Hóa, có 28,17 km đường biên giới tiếp giáp với huyện
Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào), giữ vị trí quan trọng về quốc phòng, an
ninh và giao lưu kinh tế – văn hóa khu vực biên giới. Xã có diện tích tự nhiên
khoảng 12.744 ha, gồm 09 bản với 936 hộ và 4.052 nhân khẩu. Đây là địa bàn cư trú
của 04 dân tộc gồm Thái, Mông, Mường và Kinh. Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm
tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số của xã, trong đó người Thái là nhóm chiếm đa số,
giữ vai trò chủ thể trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Mặc dù những năm
gần đây, đời sống
của người dân xã Na Mèo có nhiều chuyển biến tích cực nhưng đây vẫn
là địa bàn còn nhiều khó khăn. Sinh kế của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất
nông - lâm nghiệp quy mô nhỏ, đặc biệt là khai thác lâm sản phụ; điều kiện hạ
tầng chưa đồng bộ; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở mức cao, với 46 hộ nghèo
(chiếm 5,07%) và 350 hộ cận nghèo (chiếm 38,55%). Những đặc điểm về vị trí địa
lý, cơ cấu dân cư và điều kiện kinh tế - xã hội nêu trên đã và đang tác động
đáng kể đến xu hướng dịch chuyển lao động của người dân địa phương, đặc
biệt là lực lượng lao động trẻ người Thái.
Nội dung khảo sát tập trung làm rõ
các vấn đề như: thực trạng di cư lao động của người Thái trong những năm gần
đây; đặc điểm của các nhóm lao động di cư về độ tuổi, giới tính, trình độ học
vấn và nghề nghiệp; các hình thức di cư phổ biến (di cư thời vụ, di cư dài hạn,
lao động trong nước và lao động ngoài tỉnh); nguyên nhân thúc đẩy quá trình di
cư; đồng thời phân tích những tác động của di cư lao động đối với kinh tế hộ
gia đình, đời sống văn hóa, quan hệ xã hội và việc duy trì các giá trị truyền
thống của cộng đồng người Thái tại địa phương.
Điểm nghiên cứu sâu là bản Na Mèo,
một trong những bản có quy mô dân số lớn của xã. Hiện nay, bản có 296 hộ dân,
nằm dọc theo tuyến Quốc lộ 217 dẫn lên Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, cách trung tâm
xã khoảng 9 km. Đây là địa bàn sinh sống của cộng đồng người Thái, Kinh, Mông.
Nhờ vị trí thuận lợi về giao thông và giao lưu biên giới, người dân trong bản
có điều kiện tiếp cận sớm hơn với các cơ hội việc làm ngoài địa phương. Tuy
nhiên, trong bối cảnh sinh kế truyền thống chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm
nghiệp, xu hướng lao động trẻ rời quê đi làm ăn xa ngày càng trở nên phổ biến,
khiến bản Na Mèo trở thành địa bàn điển hình để nghiên cứu những tác động kinh
tế, xã hội và văn hóa của quá trình di cư lao động đối với cộng đồng người Thái
hiện nay.
Bằng việc kết hợp các phương pháp
nghiên cứu như phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, quan sát tham dự và khảo sát hộ
gia đình, đoàn nghiên cứu đã thu thập được nhiều tư liệu phản ánh bức tranh đa
chiều về di cư lao động của người Thái ở bản Na Mèo, xã Na Mèo. Kết quả khảo
sát bước đầu cho thấy, trong bối cảnh sinh kế tại chỗ còn phụ thuộc chủ yếu vào
sản xuất nông - lâm nghiệp quy mô nhỏ, di cư lao động đang trở thành một chiến lược
thích ứng và cải thiện sinh kế quan trọng của nhiều hộ gia đình người Thái.
Việc tham gia vào thị trường lao động ngoài địa phương không chỉ giúp người lao
động có cơ hội tiếp cận việc làm ổn định và mức thu nhập cao hơn mà còn tạo ra
nguồn lực tài chính đáng kể hỗ trợ gia đình ở quê nhà.

Ảnh: Đoàn nghiên cứu thực hiện thảo luận nhóm với cán bộ thôn Na Mèo, xã Na Mèo
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn
tiền do lao động di cư gửi về góp phần nâng cao mức sống của các hộ gia đình,
cải thiện điều kiện nhà ở, đầu tư cho giáo dục của con em, chăm sóc sức khỏe,
mua sắm tư liệu sản xuất và mở rộng các hoạt động sinh kế. Đối với nhiều hộ
dân, đặc biệt là các hộ có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập từ di cư lao động đã
trở thành nguồn thu chủ lực, giúp giảm bớt áp lực kinh tế, hạn chế nguy cơ tái
nghèo và tạo điều kiện từng bước vươn lên ổn định cuộc sống. Trên phương diện
rộng hơn, di cư lao động không chỉ góp phần giải quyết việc làm, giảm áp lực dư
thừa lao động tại địa phương mà còn trở thành một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy quá trình giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực
miền núi, biên giới như xã Na Mèo hiện nay.
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động
tích cực về kinh tế, quá trình di cư lao động cũng đặt ra không ít thách thức
đối với đời sống gia đình và cộng đồng người Thái tại địa phương. Việc một bộ
phận lao động trẻ rời quê đi làm ăn xa trong thời gian dài đã làm thay đổi cấu
trúc và chức năng của gia đình truyền thống, gia tăng gánh nặng chăm sóc con
cái và người cao tuổi đối với những thành viên ở lại. Qua trao đổi với cán bộ
địa phương và người dân, nghiên cứu bước đầu ghi nhận xu hướng gia tăng các mâu
thuẫn gia đình và tình trạng ly hôn trong những năm gần đây. Tại điểm nghiên
cứu sâu là bản Na Mèo, một số trường hợp ly hôn đã và đang kéo theo những hệ
lụy đáng quan tâm liên quan đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Bên cạnh đó, sự vắng mặt kéo dài của một bộ phận thanh niên trong độ tuổi lao
động cũng ảnh hưởng đáng kể đến đời sống cộng đồng và hiệu quả triển khai một số
nhiệm vụ ở cơ sở. Theo phản ánh của cán bộ địa phương, việc nhiều lao động trẻ
đi làm ăn xa khiến công tác tập hợp, vận động đoàn viên thanh niên gặp không ít
khó khăn; tỷ lệ tham gia các hoạt động cộng đồng và phong trào tại bản có xu
hướng giảm. Trong điều kiện là một xã biên giới, tình trạng thiếu hụt lực lượng
thanh niên tại chỗ cũng ảnh hưởng nhất định đến việc huy động nhân dân tham
gia phối hợp tuần tra, bảo vệ đường biên, cột mốc và thực hiện phong trào toàn
dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Đồng thời,
việc thiếu vắng lớp trẻ trong các sinh hoạt cộng đồng cũng làm suy giảm cơ hội
trao truyền tri thức địa
phương, thực hành văn hóa truyền thống và duy trì các mối
liên kết xã hội vốn là nền tảng của cộng đồng người Thái.