SỰ GẶP GỠ GIỮA TƯ TƯỞNG CỦA CỤ PHÓ BẢNG NGUYỄN SINH HUY VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI PHẬT GIÁO: TỪ NHÂN CÁCH VĂN HÓA ĐẾN SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG
Mặc dù cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (tức Nguyễn Sinh Sắc) và con trai là Chủ tịch Hồ Chí Minh (tức Nguyễn Sinh Cung) chỉ cùng chung sống khoảng hai mươi mốt năm, nhưng trong hành trình cách mạng của mỗi người sau này lại có nhiều điểm chung với tư tưởng Phật giáo. Trên cơ sở khảo sát một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư liệu lịch sử về cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và các công trình nghiên cứu liên quan đến Phật giáo Việt Nam, bài viết phân tích những điểm tương đồng về tư tưởng của hai cha con đối với Phật giáo trên một số khía cạnh như: yêu thương con người, đề cao lao động; phát huy tư tưởng nhập thế của Phật giáo, tích cực hoạt động yêu nước thông qua con đường thuyết giảng đạo; chấn hưng Phật giáo theo tinh thần yêu nước, từ đó chỉ ra những đóng góp của Phật giáo trong việc hình thành nhân cách văn hóa và sự nghiệp cách mạng của hai cha con Chủ tịch Hồ Chí Minh.
MỞ ĐẦU
Trong nghiên cứu về thân
thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều công trình đã tập trung làm rõ
ảnh hưởng của gia đình, quê hương, văn hóa truyền thống cũng như các dòng tư tưởng
lớn như Nho giáo, Phật giáo, Kitô giáo và chủ nghĩa Mác - Lênin. Tuy nhiên, đến
nay hầu như chưa có công trình nào khảo cứu một cách hệ thống về điểm tương đồng
tư tưởng giữa cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Phật
giáo. Xuất phát từ khoảng trống đó, bài viết này hướng đến mục tiêu làm rõ những
điểm gặp gỡ trong tư tưởng của hai cha con về Phật giáo, qua đó chỉ ra vai trò
của Phật giáo trong việc hình thành nhân cách, hun đúc tinh thần yêu nước và gắn
bó với dân tộc. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp tư liệu lịch
sử, kết hợp so sánh và diễn giải để rút ra các luận điểm chính để trả lời cho
các câu hỏi nghiên cứu sau: (1) Những
giá trị cốt lõi nào của Phật giáo được cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và Hồ Chí
Minh cùng tiếp nhận? (2) Những điểm tương đồng ấy được thể hiện ra sao trong
hành trạng, tư tưởng và hoạt động yêu nước của hai cha con? và (3) Ý nghĩa của
sự tương đồng đó đối với việc nhận diện mối quan hệ giữa Phật giáo và tinh thần
dân tộc trong lịch sử Việt Nam hiện đại?
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Một số
điểm tương đồng giữa tư tưởng của cụ Nguyễn Sinh Huy và Chủ tịch Hồ Chí Minh với
giá trị nhân văn của Phật giáo
Trong
Kinh Tương Ưng bộ ghi lại lời dạy của đức Phật tại vườn Lộc Uyển
như sau: “Này các Tỳ - kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc của quần chúng, vì an lạc
cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời,
vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người” (Thích Minh
Châu dịch, 1991, tr. 235). Lời khuyên của đức Phật cho thấy hoài bão tha thiết
của Ngài là giúp chúng sinh giải quyết khổ đau. Tương đồng với tư tưởng đó, Hồ
Chí Minh lại có tình cảm đặc biệt với Phật giáo và Người đề cao các giá trị của Phật
giáo thông qua nhân cách của đức Phật, cũng như đánh giá cao các giáo lý của đạo
Phật với thái độ tôn trọng. Người chỉ rõ: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái.
Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” (Hồ
Chí Minh, 2011c, tr. 95). “Phật Thích Ca là một người quý tộc. Ngài đã bỏ hết
công danh phú quý để đi cứu vớt chúng sinh, tức là cứu vớt những người lao động
nghèo khổ” (Viện Nghiên cứu tôn giáo, 1998, tr. 95).
Lòng yêu nước và thương đồng bào là điểm sáng trong cuộc đời
và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã từng đau đớn khi thấy cảnh thực dân Pháp
và Nam triều bắt dân phu đi làm con đường Phủ Diễn - Cửa Rào - Trấn Ninh ở quê
Người, và kể lại rằng: “Dân phu phải đi bộ hàng trăm kilômét mới đến công trường.
Đến nơi, họ phải chui rúc trong những túp lều tranh thảm hại. Không có mảy may
vệ sinh; không có tổ chức y tế... Bệnh hoạn cực nhọc, hành hạ tàn tệ đã gây nên
chết chóc khủng khiếp...” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 88).
Điểm
giống triết lý “Vô ngã” của Phật giáo, đó là người cách mạng cũng sẵn sàng hy
sinh thân mạng và lợi ích cá nhân để mọi người
có được một cuộc
sống, tương lai tốt đẹp hơn. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh chỉ có “một sự ham muốn,
ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được
hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”
(Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 187). Người sống vì dân tộc, vì đồng bào, vì tổ
quốc: “Một ngày mà tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày
tôi ăn không ngon, ngủ không yên” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 470).
Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người vẫn luôn đau đáu
nghĩ đến hạnh phúc của nhân dân,
trên hết là “công việc đối với con người”, trong đó có việc chăm sóc các gia
đình thương binh, liệt sĩ, bảo vệ quyền của phụ nữ, quan tâm đến nông
dân, đồng bào các
dân tộc thiểu số. Đối với những ai lầm đường lạc lối, Người tỏ lòng nhân ái để
khuyến khích họ trở về. Do đó, không chỉ là một nhà yêu nước và vị lãnh tụ giải
phóng dân tộc với tinh thần bất khuất, Hồ Chí Minh còn là một con người mang
tính nhân văn sâu sắc.
Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh
Huy cũng là một tấm gương yêu nước, thương yêu con người, có ảnh hưởng trực
tiếp và đầu tiên đến Hồ Chí Minh. Câu chuyện nổi tiếng về cụ Phó bảng là ngay sau khi đỗ Phó bảng trở về quê, cụ đã từ chối
ngồi kiệu vinh quy, mà đi bộ cùng dân làng về quê ngoại; số tiền xã cắt cho làm
cỗ ăn khao, cụ cũng đem chia cho người nghèo làm vốn sinh nhai; nếp sinh hoạt
hằng ngày vẫn rất giản dị, vẫn cuốc đất làm vườn với các con và theo thói quen
ở địa phương cả nhà đều nhịn ăn sáng. Trước khi vào Huế nhậm chức, cụ chỉ để
lại một ít ruộng cho người con gái, còn lại cụ bán lấy tiền, giúp cho những
người dân trong làng có người thân phải đi phu Cửa Rào. Cũng vì vốn không ưa
bọn cường hào, ác bá tại địa phương, nên khi nghe dân chúng than oán, cụ đã ra
lệnh đánh đòn tên cường hào Tạ Đức Quang. Sau vụ án này, ngày 19/5/1910, Hội
đồng Nhiếp chính triều đình Huế xử phạt cụ 100 trượng và cho “cải bổ kinh chức”
về làm quan ở kinh đô nhưng cụ quyết định từ quan và bắt đầu hành trình xuôi
phía Nam. Những hoạt động yêu nước hay tấm lòng nhân hậu, thương người của cụ
Phó bảng Nguyễn Sinh Huy đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng người dân
nơi những vùng đất mà cụ đã đi qua.
Từ
năm 1910, hai cha con cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và Hồ Chí Minh bắt đầu những
bước ngoặt mới trong cuộc đời của mình và đều hoạt động không ngừng nghỉ vì
nhân dân, vì đất nước. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ người thanh niên một mình
ra đi tìm đường cứu nước với tên gọi Nguyễn Tất Thành trên con tàu Amiran
Latusơ Tơrêvin với công việc phụ bếp và trải qua nhiều công việc khác như quét
tuyết ở trường học, làm công việc đốt lò ở trung tâm sưởi ấm của thành phố Luân
Đôn; giúp việc nhà, làm bánh ở Mỹ; nghề in phóng ảnh, viết báo ở Pháp… để sống
và hoạt động cứu nước. Sau này, với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng hòa, trong tác phẩm Đạo đức lao động, Người khẳng định: “Lao động
là sự
nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng” (Hồ Chí Minh, 2011d,
tr. 627). Về phía người cha, mặc dù lưu trú chủ yếu tại các
chùa[1], từ
Linh Sơn (Sài Gòn) đến Hội Khánh (Bình Dương), Thiên Thai (Bà Rịa), Vĩnh Tràng
(Mỹ Tho), Hội Thọ (Cái Bè), Tiên Linh (Bến Tre), Long Hưng (An Giang)…
nhưng cụ Nguyễn Sinh Huy vẫn luôn hành nghề bốc thuốc, dạy học… để sống và giúp
người. Có thể nói, lòng yêu nước, thương dân ở hai cha con cụ Nguyễn Sinh Huy
gắn chặt với tình yêu lao động, vì nước, vì dân, để lại những dấu ấn tốt đẹp
trong lịch sử truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam và thế giới.
2.
Từ sự vận dụng tư tưởng Phật giáo vào hoạt động cách mạng
Cụ Phó bảng
Nguyễn Sinh Huy và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy những giá trị tốt đẹp
trong đạo đức của Phật giáo là đề cao lòng từ bi, vô ngã, vị tha, làm điều thiện,
tránh điều ác, là mục tiêu thiêng liêng đưa lại hạnh phúc và an lạc cho chúng
sinh. Trên tinh thần đó, cùng với việc chỉ rõ và khắc phục những điểm hạn chế của
Phật giáo, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và Hồ Chí Minh đã thật sự góp phần gắn kết
chủ nghĩa yêu nước với Phật giáo và dựa vào Phật giáo để truyền bá và phát huy chủ
nghĩa yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi gông cùm thực dân, phong kiến
ở mỗi tăng ni, phật tử, ở mỗi người dân thời đó.
Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy là hiện thân của sự kết
hợp giữa nhà nho yêu nước với phật tử tích cực và trí thức trẻ. Vào tháng
4/1922, cụ bí mật qua chùa Sùng Phước, Châu Hộ, Phnôm Pênh ở Campuchia gặp Hòa
thượng Hồng Đại Bửu Phước, nhà Phật học uyên thâm, đệ tử của Hoàng thượng Tổ sư
Như Hồng chùa Quốc Ân (Huế) mà cụ đã quen biết 8 năm trước. Tại đây, sau khoảng
bốn tháng thọ giáo, cụ chính thức quy y, trở thành phật tử với pháp danh Nhật
Sắc[3] và
cụ còn đặc biệt được cấp giấy giới thiệu để tới các chùa (nơi sinh hoạt tôn
giáo của bà con Việt kiều) trên đất Campuchia. Sau đó, cụ về lại Nam Kỳ, tích
cực tham gia các hoạt động Phật giáo yêu nước. Những ghi chép lịch sử còn cho
thấy, cụ có mối giao hảo rất tốt với các nhà
sư yêu nước ở Nam Kỳ. Điển hình như Từ Văn (chùa Hội Khánh - Thủ Dầu Một), Chí
Thành (chùa Phi Lai - Châu Đốc), Huệ Đăng (chùa Thiên Thai - Bà Rịa), Khánh Hoà
(chùa Tiên Linh, Bến Tre), Thiện Chiếu (chùa Linh Sơn, Sài Gòn), Hấu (chùa Linh
Sơn, Cao Lãnh), Thoại (chùa Hoà Long, Cao Lãnh), Viên Minh (Hoà Thạnh, Tịnh
Biên, An Giang), Đạt Điền (Giồng Thành, Tân Châu, An Giang)… đều là những nhà
sư tinh thông triết lý Phật giáo, là người yêu nước (trong số này có nhiều
người tham gia cách mạng và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản), tích cực tham
gia Phong trào Chấn hưng Phật giáo lúc bấy giờ. Trong dịp dự lễ trùng tu chùa
Kim Tiên (Cai Lậy, Tiền Giang) cùng năm 1922, cụ từng tâm sự: “Tu chùa là cứu
khổ, cứu nạn chúng sinh. Cái nạn lớn nhất là làm mất nước, là đem thân làm nô
lệ cho ngoại bang. Chúng sinh hiện nay đang rên xiết đau khổ vì bị ngoại bang
bóc lột, khinh miệt, người chân tu phải ra tay cứu cái nạn lớn đó. Giữa lúc
nước mất, đồng bào bị đoạ đày mà đóng cửa chùa lo tụng kinh gõ mõ là đi ngược
lại tôn chỉ nhà Phật” (Nguyễn Đắc Hiền, 1994, tr. 16).
Khoảng cuối năm 1923, cụ Nguyễn Sinh Huy đến chùa
Hội Khánh để gặp Phan Đình Viện, tức cụ Tú Cúc (người bạn quê Hà Tĩnh, tham gia
phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, bị Pháp truy lùng, trốn vào Nam ở chùa Hội
Khánh từ năm 1922). Cùng với Hòa thượng Từ Văn, vị trụ trì thứ sáu của Chùa Hội
Khánh và những nhà yêu nước khác tại địa phương như ông Khôi, ông Nhẫn, thầy Ký
Cội, Giáo thọ Quới, thầy Từ Tâm… cụ tham gia thành lập Hội Danh dự yêu nước,
lấy chùa làm trụ sở. Hoạt động của Hội là truyền bá, phổ biến và chấn hưng Phật
giáo thông qua các buổi thuyết pháp giảng đạo, nhưng bên trong thực chất là
diễn thuyết, tuyên truyền về phong trào yêu nước, với bề ngoài là thầy đồ mở
các lớp dạy chữ nho, dạy kinh dịch và lang y bắt mạch, hốt thuốc,… Cụ còn tham
gia xây dựng phong trào yêu nước ở Chợ Gạo, Vĩnh Kim, Sơn Dầu (Tiền Giang),
chùa Hòa Khánh, Giồng Thành và nhiều nơi khác
ở Campuchia. Khi từ Quảng Châu (Trung Quốc) về nước, cụ chia sẻ với Phan Trọng Bình[4],
Lê Văn Lợi về Phật giáo, tại Sài Gòn khoảng năm 1926, rằng: “Muốn giải phóng
dân tộc, các cháu phải theo đạo Phật”[5]. Khi
Nguyễn An Ninh từ Pháp về nước hoạt động, cụ cũng nhiều lần bí mật gặp để bàn
về mối liên hệ giữa Phật giáo với dân tộc (Thích Huệ Thông, 2020, tr.92). Đây
là vấn đề mà cụ rất quan tâm. Trong số những thính giả đi nghe Nguyễn An Ninh
hay Phan Châu Trinh diễn thuyết lúc đó ở trụ sở Bắc Kỳ ái hữu, có hàng chục
thanh niên đầu cạo bóng. Trong số những người bị chất vấn “ai xui thầy chùa đi
biểu tình”, Thiện Chiếu ở chùa Linh Sơn đã có bài viết rằng: Thuyết từ bi cứu
khổ của Phật Tổ xui phật tử chúng tôi tham gia những cuộc vận động yêu nước,
thương dân chớ không ai xui cả… (Nguyễn Hữu Hiếu, 2019, tr. 216). Hoạt động này
trở thành phong trào có ảnh hưởng đến phật tử và lớp tăng ni trẻ.
Nhằm tiếp tục truyền bá tinh thần yêu nước nhằm hỗ
trợ cho Phong trào Chấn hưng Phật giáo, đầu năm 1927, cụ Nguyễn Sinh Huy cải
trang làm cao tăng chùa Từ Đàm (Huế) để vượt chặng đường dài trên cả ngàn cây
số, đến chùa Tiên Linh (Mỏ Cày, Bến Tre, năm 1930 đổi tên thành Tuyên Linh).
Nhờ sự giúp đỡ của sư
trụ trì Khánh Hòa, cụ cùng Trần Hữu Chương, đảng viên Đảng Tân Việt, được cử về
xã Minh Đức gây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp học cho thanh niên và những người
trong hội kín của Nguyễn An Ninh ngay trong chùa.
Vào tháng 2/1928, dịp rằm tháng Giêng năm Đinh Mão,
cụ Nguyễn Sinh Huy về Cao Lãnh và cùng với sư Thiện Chiếu tổ chức thuyết pháp
tại chùa Hòa Long với chủ đề: “Phật hóa tân thanh niên,” được rất nhiều thanh
niên trí thức tại địa phương tham dự. Trong dịp này, nhóm thanh niên yêu nước
như Phạm Hữu Lầu, Lưu Kim Phong dự lớp chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc) vừa
về nước, cũng đến gặp cụ và được khuyên: “Mấy cậu là niềm hy vọng của tôi, là tương lai của tổ quốc. Ngày nay nước mất,
nhà tan, chúng ta phải đứng lên góp sức đập phá xiềng gông nô lệ, không nên nai
lưng lòn cúi, run sợ trước cường quyền”[6]. Cũng
thời gian này, cụ nhờ sư Điền ở chùa Giồng Thành (An Giang) hỗ trợ nhà yêu nước
Nguyễn Quang Diêu. Khoảng tháng 5/1929, cụ qua huyện Prekdek (Campuchia) truyền
bá tinh thần yêu nước, nhưng bị Pháp phát hiện, nên phải lưu trú tại đây chờ
tình hình lắng xuống. Khoảng giữa tháng 6/1929, cụ trở về chùa Giồng Thành và
cùng sư Chánh Hường bốc thuốc trị bệnh cho người dân nơi đây. Cuối tháng
6/1929, Pháp đem lính đến chùa Giồng Thành vây ráp, Hòa thượng Điền cho người
dẫn cụ đi lánh nạn. Pháp bắt được Hòa thượng Điền, còn ông Ba Sành bơi xuồng
đưa cụ đến Sa Đéc. Cụ về Cao Lãnh tiếp tục hoạt động cách mạng rồi bệnh và qua
đời tại chùa Hoà Long, Cao Lãnh, Đồng Tháp vào ngày 27/11/1929 (Nguyễn Hữu
Hiếu, 2020, tr. 152-155).
Nỗ lực của cụ Nguyễn Sinh Huy cùng những hòa thượng
yêu nước đã giúp nhiều tăng ni, phật tử và thanh niên hiểu và tích cực tham gia
cách mạng. Nhiều người sau này trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vào năm 1925, Nguyễn Ái Quốc (tên gọi thời kỳ này
của Hồ Chí Minh) đã cử Hồ Tùng Mậu sang Xiêm (Thái Lan) gây dựng cơ sở cách
mạng; cuối năm 1926, cử Phan Trọng Bình và Lê Văn Lợi, sau khi học xong khoá
huấn luyện tại Quảng Châu, Trung Quốc về Sài Gòn hoạt động. Nhiều tư liệu về
thời kỳ này đã cho thấy hơn 20 địa điểm thuộc địa bàn 9 tỉnh, thành phố của
Thái Lan trong các năm 1928 - 1930 là những nơi Nguyễn Ái Quốc từng ở, làm
việc, gặp gỡ kiều bào, khai hội. Những
hoạt động cách mạng của Người trong cộng đồng Việt kiều có nhiều ảnh hưởng tốt
truyền về trong nước. Điều đáng lưu ý, hoạt động được chú trọng đầu tiên của
Người trên đất Thái Lan chính là dành thời gian đi thăm hỏi các nhà sư Việt kiều trụ trì ở các
chùa, tức người của phong trào Cần Vương, Duy Tân còn sót lại, như chùa Hội
Khánh (chùa Mongkhol Samalkhol) nằm trên đường Pleng Nam (Băng Cốc); chùa ông
Năm (chùa Somsanam (Borihara) ở phố Lan Luông (Băng Cốc); chùa ông Ba hay chùa
Tư Tế Tự (chùa Vắt Locanụkhrọ) ở phố Rajawong (Băng Cốc); chùa Oátphô (ở thị xã
Uđon Thani), chùa Bản Chính (Uđon Thani); chùa Xỉchômchưn (Noọngkhai),... Trong
số đó, chùa Tư Tế được coi là nơi Người đặt chân đến đầu tiên khi hoạt
động cách mạng ở Thái Lan những năm 1928 - 1929. Tư Tế Tự là nơi mà hơn nửa thế kỷ
trước, Hòa thượng Bình Lương, còn gọi là sư Ba, đã trụ trì. Năm 1928, khi hay
tin Nguyễn Ái Quốc sang Thái Lan hoạt động, Hòa thượng Bình Lương tìm cách liên
lạc và Tư Tế Tự được chọn là nơi hội họp, trao đổi thư từ, tài liệu hoạt động
cách mạng của Nguyễn Ái Quốc với những người Việt Nam yêu nước tại Thái Lan.
Hòa thượng Bình Lương[7]
được Người giao nhiệm vụ tổ chức tập hợp bà con kiều bào ở Thái Lan và đỡ đầu
tờ báo Nhân Ái nhằm kêu gọi đoàn kết Việt kiều yêu nước chống Pháp. Chính
tại ngôi chùa Tư Tế này, khoảng từ tháng 7/1929, Nguyễn Ái Quốc có 4 tháng
xuống tóc, khoác áo cà sa, ăn chay, mỗi sớm Người cùng các sư trong vùng đi
khất thực. Điều này cũng tương thích với tác giả Trần Dân Tiên trong
quyển Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch: “Khi nguy hiểm
đã quá rõ ràng, biết mình bị theo dõi gắt gao, ông Nguyễn lánh vào một ngôi
chùa quen, tạm xuống tóc đi tu” (Trần Dân Tiên, 2023, tr. 117). Chùa Tư Tế thật
sự đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho hoạt động cách mạng của Việt kiều ở Thái
Lan, đồng thời là nơi nuôi giấu, che chở cho hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc và một số nhà lãnh đạo cách mạng khác như: Ung Văn Khiêm, Hoàng Quốc Việt…
khi hoạt động bí mật trên đất Thái Lan.
Chuẩn
bị cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, ngày 19/5/1941, Hồ Chí Minh thành lập
Hội Việt Nam Độc lập Đồng minh (Mặt trận Việt Minh) với hạt nhân là các hội cứu
quốc, như: Phật giáo Cứu quốc, Công nhân Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc, Thanh
niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Phụ lão Cứu quốc, Nhi đồng Cứu quốc… để thành
mặt trận toàn dân kháng chiến chống kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam lúc đó là
thực dân Pháp và phát xít Nhật. Người nhấn mạnh: “Việt Nam Độc lập Đồng minh,
không phải là một đảng mà là một mặt trận toàn dân, bao gồm các đảng phái (Đảng
Dân chủ, Phái Xã hội), các phần tử Quốc dân Đảng, Đảng Cộng sản (đã tự động
giải tán) và cả các đoàn thể yêu nước không đảng phái như: Hội Thanh niên Cứu
quốc, Hội Phật giáo Cứu quốc, Hội Cơ đốc giáo Cứu quốc…” (Hồ Chí Minh, 2011b,
tr. 137). Như vậy, Hội Phật giáo Cứu quốc ngay từ đầu đã là một thành viên quan
trọng của Mặt trận Việt Minh và có khả năng tăng cường đoàn kết với các tổ chức
tôn giáo khác để sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc đi đến thành công.
Với nhãn quan chính trị
nhạy bén, sự mẫn cảm kiệt xuất cùng thực tiễn cách mạng phong phú, Hồ Chí Minh
đã nhận thấy Phật giáo là một điểm tựa quan trọng để xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, đem lại cuộc sống ấm
no, hạnh phúc cho con người Việt Nam. Hồ Chí Minh đã thức tỉnh tinh thần đại từ
đại bi, cứu khổ cứu nạn của đức Phật trong tình cảm yêu nước của đồng bào phật
tử và kêu gọi họ đoàn kết cùng nhân dân đấu tranh bảo vệ nền độc lập, hoà bình
của đất nước. Người khẳng định: “… Phật giáo Việt Nam với dân tộc như bóng với
hình, tuy hai mà một. Tôi mong các Hòa thượng, Tăng, ni và Phật tử hãy tích cực
thực hiện tinh thần từ bi, vô ngã, vị tha, trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước
và giữ đạo, để cùng toàn dân sống trong Ðộc lập, Tự do, Hạnh phúc” (Nhiều tác
giả, 2012, tr. 143).
3.
Đến góp phần chấn hưng và phát triển Phật giáo
Cụ
Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng Phật giáo
để truyền bá, phát huy tinh thần yêu nước, cách mạng ở mỗi người dân, mà còn
thông qua đó, góp phần tích cực vào quá trình chấn hưng và phát triển của Phật
giáo Việt Nam.
Dưới
ách thống trị của thực dân Pháp, nhiều giá trị truyền thống văn hoá của dân
tộc, trong đó gồm cả Phật giáo dần bị mai một và suy giảm vai trò trong đời
sống xã hội. Cùng với ảnh hưởng của phong trào Duy Tân và làn sóng chấn hưng
Phật giáo ở Trung Quốc, Tạp chí Hải triều âm đã trực tiếp tác động thúc
đẩy những người trong giới Phật học và những người quan tâm đến tiền đồ đạo
Phật ở Việt Nam ý thức chấn hưng, bảo vệ đạo Pháp.
Ra
đời năm 1930 tại Nam Kỳ, Hải triều âm là cơ quan ngôn luận quan trọng
của phong trào chấn hưng Phật giáo, tập trung phê phán mê tín dị đoan, kêu gọi
chư tăng trở về tinh thần Giới - Định - Tuệ, khuyến khích dịch thuật kinh điển,
mở trường đào tạo tăng tài và cải cách sinh hoạt Phật giáo. Nhờ vậy, Hải
triều âm đặt nền tảng lý luận và thực tiễn để phong trào chấn hưng phát
triển sâu rộng gắn với việc giữ gìn văn hóa dân tộc và khơi dậy tinh thần yêu
nước (Nguyễn Lang, 2012). Nhiều bài viết đề cao lý tưởng nhập thế, cứu khổ cứu
nạn, cổ vũ tăng ni, phật tử tham gia các hoạt động xã hội, gắn đạo với đời. Do
đó, Hải triều âm không chỉ là diễn đàn chấn hưng Phật giáo mà còn góp
phần nuôi dưỡng ý thức dân tộc, chuẩn bị tư tưởng cho phong trào cách mạng
(Nguyễn Hữu Hiếu, 2019).
Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh
Huy đã nhận thấy, tuy chùa chiền rất đông tín đồ nhưng Phật giáo bước
vào thời điểm suy yếu: “Thầy chùa không hiểu đạo Phật, khinh
thường giới luật, có kẻ mượn Phật làm danh, cũng ngày đêm hai
buổi công phu, sóc vọng, cũng sám hối như ai, nhưng lại thủ
dị cầu kỳ, học thêm bùa ngải, luyện roi thần, làm bạn với thiên linh cái,
đồng nhi, khi ông lên bà xuống, ngáp vắn, ngáp dài, thư phù niệm chú, gọi
là cứu nhân độ thế, nhưng thật ra lợi dụng lòng mê
muội của thiện nam tín nữ, mở rộng túi tham, quơ vét cho
sạch sành sanh”[8].
Cụ cho rằng cần chấn hưng Phật giáo không chỉ thuần tuý là một phong
trào tôn giáo, mà còn bảo vệ văn hoá dân tộc, một hoạt động yêu nước. Cần tuyên
truyền những điều này, trước nhất phải thành lập các tổ chức. Theo Tạp chí Duy
tâm Phật học (1935) có ghi lại: “Cụ Sắc đã gợi ý sáng tỏ cho cụ Khánh Hòa là
phải tổ chức, có tổ chức mới có cơ sở để làm việc, để tạo thế mạnh và hoằng
đạo, phải tổ chức thành hội Phật giáo. Bấy lâu cụ Khánh Hòa có ý đó, giờ đây
được cụ Sắc làm sáng tỏ hẳn lên và Cụ Sắc trở thành một lý thuyết gia của cụ
Khánh Hòa”. Vì vậy, “… ở Việt Nam phong trào bắt đầu bằng sự vận động của Thiền
sư Khánh Hòa ở chùa Tiên Linh (Bến Tre) và các thân tín của Thiền sư. Năm 1923,
nhân ngày giỗ tại chùa Long Hoa, quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, vào ngày 19
tháng 9 âm lịch (Quý Hợi), Hòa thượng Khánh Hòa vận động mời tất cả những vị
tôn túc khắp miền Tiền Giang và Hậu Giang về Tiểu Cần để dự lễ, đồng thời để
họp bàn về vấn đề chấn hưng Phật giáo. Kết quả là “Hội Lục hoà Liên hiệp” được
thành lập, tất cả những vị tôn túc có mặt trong buổi họp như Huệ Quang, Chí
Thiền, Trí Thiền, Từ Phong, Chánh Quả, An Lạc, Huệ Định, Diệu Pháp… đều đồng ý
tham dự (tức tham gia vào Hội Lục hoà Liên hiệp)” (Nguyễn Lang, 2012, tr. 630).
Ngoài ra, các tư liệu cho thấy, cụ Nguyễn Sinh Huy còn có mối liên hệ với “Hội
Lục hoà liên xã” đặt trụ sở trung tâm tại chùa Giác Hải (Chợ Lớn), do
Hòa thượng Từ Văn trụ trì Tổ đình Hội Khánh là Hội trưởng.
Với
mục đích hô hào đoàn kết để tiến tới thành lập ban vận động, các hội yêu nước
Phật giáo đi tuyên truyền, khơi
dậy tinh thần yêu nước, định hướng tâm hạnh cho hàng tăng ni,
phật tử trước yêu cầu cấp bách của toàn dân tộc
là giải phóng đất nước thoát khỏi ách lầm than nô lệ.
Cũng thời gian này, trên tờ Đông Pháp thời báo, do Trần Huy Liệu làm chủ
bút, xuất hiện hàng loạt các số về đạo Phật. Bắt đầu từ số báo 59 (ngày
5/10/1923) đăng hàng loạt bài “Khảo lược về cách tu trong Phật giáo”, người
viết ký tên là Viên Hoành. Từ số 70 (ngày 5/11/1923), sau 10 bài của Viên
Hoành, lại xuất hiện loạt bài “Phật giáo khảo lược”, ký tên ĐPTB (Đông Pháp
thời báo). Từ số 100 trở đi có hàng loạt bài “Ảnh hưởng của Phật giáo khảo
lược”, người viết ký tên là T.V. Cũng trong thời điểm này, một báo cáo của mật
thám Pháp ở Phan Thiết, ngày 10/11/1923, gửi mật thám Trung kỳ, có đoạn viết:
“… Nguyễn Sinh Sắc mang theo một cái túi dết to chứa nhiều giấy tờ, có khi viết
suốt đêm và không tỏ vẻ gì sợ hãi”. Những bài báo trên kéo dài đến hết năm
1924, đã tạo nên một phong trào tuy không rầm rộ về mặt hình thức nhưng có ảnh
hưởng sâu rộng về mặt chính trị và tư tưởng (Nguyễn Hữu Hiếu, 2019, tr. 214).
Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy còn thường xuyên lui tới các chùa ở Nam Kỳ để vận động phong
trào yêu nước thông qua việc đàm luận Phật giáo với các chư vị tăng ni hay tham
gia chú giải kinh Phật[9]
và nghiên
cứu chuyên sâu về Tam tạng. Đặc biệt, những vấn đề nhập thế của đạo Phật
rất thiết thực, được cụ
lồng ghép trong những câu đối liễn tặng Hòa thượng Khánh Hòa, tặng chùa Tiên Linh hay chùa Kim
Tiên (Cai Lậy - Tiền Giang), chùa Linh Sơn (Sài Gòn),… Tình cảm và sự quan tâm đặc biệt của cụ đối với Phật giáo ngày
càng được khẳng định khi cụ viết thư về Nghệ Tĩnh để khuyên bà
con và họ hàng theo đạo Phật. Trong thư cụ viết: “Vinh,
ngày 8/9/1927. Nguyễn Sinh Huy báo tin cho bà con họ hàng biết
là ông đang ở tại số 225 nhà Tiến Phúc Đồng phố Thiết Bình (ESP.AGNE)
khuyên bà con nên theo đạo Phật” (Nguyễn Hữu Hiếu, 2019, tr. 94). Cụ Nguyễn
Sinh Huy là điển hình của những trí thức quan tâm, chấn hưng Phật giáo theo
tinh thần yêu nước. Công cuộc chấn hưng Phật giáo đã
có những bước phát triển mạnh mẽ giai đoạn 1930 - 1945[10], và trở thành một mốc quan
trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu quan tâm đối với Phật
giáo ngay từ những năm 1927, khi Người sống
và hoạt động tại Thái Lan. Thượng tọa chùa Oắt - phô ở tỉnh Uđon - Thani cho
biết: “Hồi ấy, chùa xây điện thờ chính, việc chỉ đạo xây điện do ông Nguyễn đảm
nhiệm, ông Nguyễn kêu gọi bà con Việt kiều góp của, góp công, mua sắm nguyên
vật liệu cho chùa rất nhiều...” (Hội thảo quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh, 1990,
tr.166). Khi trở về nước lãnh đạo cách mạng, Người vẫn luôn sắp xếp thời gian (nhất là những giờ phút
quan trọng của cách mạng) thân hành đến
các di tích chùa chiền, đình, đền, miếu mạo nổi tiếng như chùa Hương, chùa Một
Cột, chùa Quán Sứ, chùa Thầy, chùa Trầm, chùa Côn Sơn, đền Ngọc Sơn, đền Hùng,
Kiếp Bạc, Cổ Loa... để thắp hương tưởng niệm đến đức Phật, các bậc thần linh,
anh hùng chiến sĩ và cùng với các nhà sư và “ra sức cầu Phật cho kháng chiến
chóng thành công” (Vũ Kỳ, 2005, tr. 330) và đất nước mạnh giàu, nhân dân an
lạc.
Theo
Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: “Đầu tháng 12 (năm 1940),… Ngày tết đến với
chúng tôi tại biên giới,… Gần làng có miếu thờ Thành hoàng, nhân dân ai cũng
đến lễ bái. Bác cũng đi cùng bà con đến viếng đền” (Võ Nguyên Giáp, 1977, tr. 41).
Đồng chí Vũ Anh, một cán bộ cách mạng cao cấp thời bấy giờ cũng chia sẻ: “Tháng
1/1941, Bác, anh Kiên và tôi về địa điểm Pác Bó... ngày tết quần chúng trong
làng lên chúc tết đủ mặt. Các chị phụ nữ mỗi người mang một cái làn đựng thẻ
hương và quà bánh, kéo từng đoàn đến lễ tết. Bác vẽ một ảnh Phật treo trên vách
đá cho quần chúng có chỗ lễ...” (Nhiều tác giả, 2001, tr. 209).
Ngay
sau Cách mạng tháng Tám thành công, trong
phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 03/9/1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nêu sáu nhiệm vụ cấp bách, trong đó Người đề nghị Chính phủ
tuyên bố: “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”. Với tinh thần đó, Người đã sớm ký Sắc lệnh khẩn cấp số 65 (23/11/1945) với nội
dung: “Bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, cấm phá huỷ đình, chùa,
đền, miếu, các cổ vật… có ích cho lịch sử” (Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước,
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, 2017, tr. 120). Hiến pháp đầu tiên
(thông qua ngày 2/3/1946) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Người là
Trưởng ban Ban Soạn thảo, ghi rõ: mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín
ngưỡng. Điều 5, Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 thừa nhận các tổ chức tôn
giáo có quyền mở trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo,… Tháng
3/1958, dưới
sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ đã đồng ý và tạo điều
kiện cho tăng ni, phật tử thống nhất 4 tổ chức Phật giáo ở miền Bắc lúc bấy giờ
thành Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam.
Khi đất nước bị chia cắt
làm hai miền, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách chia rẽ tôn giáo,
âm mưu chia cắt lâu dài đất nước. Trong thư gửi các vị tăng ni và đồng bào tín đồ Phật giáo
nhân dịp lễ Đức Phật Thích Ca thành đạo, ngày 8/1/1957 (8/12 âm lịch), Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã viết: “… tôi thân ái gửi đến các vị tăng ni và đồng bào tín đồ
lời chào đại hòa hợp,… Trong dịp này tôi mong các vị tăng ni và đồng bào
tín đồ đã đoàn kết thì càng đoàn kết hơn để góp phần xây dựng hòa bình chóng
thắng lợi. Hãy ra sức giúp đỡ cán bộ hăng hái thực hiện mọi công tác của Ch ính
phủ, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu Mỹ
- Diệm và bọn tay sai lợi dụng tôn giáo hòng chia rẽ khối đoàn kết toàn dân,
hãy ra sức đấu tranh giành thống nhất đất nước” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr. 472-473).
Bên cạnh
đó, Hồ Chí Minh cũng đánh giá cao những đóng góp, hy sinh của tăng ni, tín đồ
Phật giáo trong hai cuộc kháng chiến cứu nước đã sẵn lòng nồng nàn yêu nước,
hăng hái làm tròn nghĩa vụ của người công dân và xứng đáng là phật tử. Để phản đối việc chính quyền Ngô Đình Diệm cấm
treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp lễ Phật đản năm 1963, ngày 11/6/1963, Hòa
thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn với hạnh nguyện: “Khói thơm
cảnh tỉnh bao người ác; Tro trắng phẳng san hố bất bình”. Trước sự hy sinh phi
thường và dũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức, Hồ Chí Minh hết sức cảm động
và có câu đối kính viếng Hòa thượng: “Vị pháp thiêu thân vạn cổ hùng huy thiên
nhật nguyệt; Lưu danh bất tử bách niên chính khí địa sơn hà” (Nhiều tác giả,
2012, tr. 14). Trong thư gửi Đại hội lần thứ ba, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam,
ngày 28/9/1964, Người đã viết: “Các vị tăng ni, tín đồ Phật giáo trước đây có
công với kháng chiến, nay thì đang góp sức cùng toàn dân xây dựng miền Bắc giàu
mạnh và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà… Chúc toàn thể tăng,
ni và đồng bào Phật giáo góp phần xứng đáng trong sự nghiệp xây dựng nước Việt
Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (Hồ Chí Minh,
2011f, tr. 383).
KẾT LUẬN
Rõ ràng cụ Phó bảng
Nguyễn Sinh Huy và Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thừa hưởng, tiếp thu, mà còn
vận dụng tất cả những gì tốt đẹp nhất, tích cực nhất trong truyền thống văn hóa
của dân tộc Việt Nam, trong đó có nhiều yếu tố Phật giáo. Đặc biệt, cụ Phó bảng
Nguyễn Sinh Huy, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vốn là một nhà nghiên cứu
Phật học thâm sâu, một trí thức yêu nước rất thân cận với chư Tôn túc Phật giáo
(Nhiều tác giả, 2012, tr. 6, 130).
Sự
gặp gỡ giữa tư tưởng của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và Chủ tịch Hồ Chí Minh
đối với Phật giáo cho thấy mối liên hệ sâu sắc giữa truyền thống văn hóa dân
tộc, tinh thần nhân văn của Phật giáo và dòng chảy tư tưởng yêu nước trong lịch
sử Việt Nam cận - hiện đại. Tuy sống và hoạt động trong những điều kiện lịch sử
khác nhau, cả hai đều tiếp cận và vận dụng các giá trị Phật giáo theo hướng gắn
bó với đời sống xã hội, đề cao lòng nhân ái, tinh thần nhập thế và trách nhiệm
đối với cộng đồng. Những giá trị đó không chỉ góp phần hình thành nên nhân cách văn hóa của mỗi người, mà còn trở thành
nguồn động lực tinh thần quan trọng cho các hoạt động phụng sự đất nước và nhân
dân. Từ việc khảo sát các tư liệu lịch sử và các công trình nghiên cứu liên
quan, có thể nhận thấy Phật giáo đã có những ảnh hưởng nhất định đối với quá
trình hình thành tư tưởng, lối sống và phương thức hành động của cụ Phó bảng
Nguyễn Sinh Huy cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc nhận diện những điểm tương
đồng trong cách tiếp cận và vận dụng các giá trị Phật giáo của hai cha con
không chỉ góp phần làm sáng tỏ vai trò của các giá trị văn hóa - tôn giáo trong
việc bồi dưỡng nhân cách và hun đúc tinh thần yêu nước, mà còn gợi mở thêm
những cách nhìn về ý nghĩa của các giá trị đó đối với đời sống xã hội và sự
phát triển của đất nước trong bối cảnh hiện nay./.
Tài liệu tham khảo
1.
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Bến Tre. (2020).
Hoạt động và ảnh hưởng của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở Bến Tre. Nxb.
Công an nhân dân.
2.
Cục
Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III. (2017). Tập sắc
lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm
1945-1946. Trong Bảo vật quốc gia. Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật.
3.
Hồ Chí Minh. (2011a). Toàn tập - tập 2. Nxb. Chính trị quốc
gia - Sự thật.
4.
Hồ Chí Minh. (2011b). Toàn tập - tập 4. Nxb. Chính trị quốc
gia - Sự thật.
5.
Hồ Chí Minh. (2011c). Toàn tập - tập 7. Nxb. Chính trị quốc
gia - Sự thật.
6.
Hồ Chí Minh. (2011d). Toàn tập - tập 10.
Nxb. Chính trị quốc
gia - Sự thật.
7.
Hồ Chí Minh. (2011e). Toàn tập - tập 11.
Nxb. Chính trị quốc
gia - Sự thật.
8.
Hồ Chí Minh. (2011f). Toàn tập - tập 14.
Nxb. Chính trị quốc
gia - Sự thật.
9.
Huỳnh Ngọc Đáng, Thích Huệ Thông. (Đồng
Chủ biên, 2015). Kỷ yếu Hội thảo: Thân
thế và sự nghiệp Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Nxb. Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.
10.
Huỳnh Ngọc Đáng.
(n.d). Hội Lục hoà liên xã trong dòng chảy lịch sử Giáo hội Phật giáo cổ truyền
Việt Nam. https://chuaxaloi.vn/thong-tin/hoi-luc-hoa-lien-xa-trong-dong-chay-lich-su/3168.html
11.
Nguyễn Đắc Hiền. (Chủ biên, 1994). Cụ Phó bảng Nguyễn
Sinh Sắc. Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc.
12.
Nguyễn Hữu Hiếu. (2020). Những ngôi chùa ở An Giang trên bước đường
hoạt động yêu nước của Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Bến Tre.
13.
Nguyễn Hữu Hiếu. (2019). Nguyễn
Sinh Huy - Chân dung một nhà Nho. Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
14. Nguyễn Lang. (2012). Việt Nam
Phật giáo sử luận. Nxb. Phương Đông.
15. Nguyễn Minh Đức (2009). Đi tìm dấu chân cố
nhân. Tạp chí Sử học Bình Dương. Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương, Số 16
(12/2009), tr. 19.
16.
Nhiều
tác giả. (2001). Bác Hồ hồi ký. Nxb. Văn hóa Thông tin.
17.
Nhiều tác giả (2012). Chủ tịch Hồ Chí Minh với
Phật giáo. Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
19. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí
Minh. (2001). Biên niên sử Phật giáo Gia Định - Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí
Minh. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
20.
Thích Huệ Thông. (2020). Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc trong phong trào chấn hưng
Phật giáo. Ban Tuyên giáo Tỉnh
ủy Bến Tre.
21.
Thích Minh Châu. (Dịch, 1991). Kinh Tương
Ưng 1. Thiên Có Kệ. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
22.
Trần Dân Tiên. (2023). Truyện về Hồ Chí Minh.
Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật.
23.
UNESCO và Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. (1990). Kỷ niệm
100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 1890 - 1990. Hội thảo Quốc tế Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Nxb. Khoa học xã hội.
24.
Viện Nghiên cứu Tôn giáo. (1998). Hồ Chí Minh về
vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng. Nxb. Khoa học xã hội.
25. Võ Nguyên Giáp. (1977). Những chặng đường lịch sử. Nxb.
Văn học.
26.
Vũ Kỳ. (2005). Càng nhớ Bác Hồ. Nxb. Chính trị
quốc gia.
Tháng 3/1964, Hòa thượng Bình Lương bị bệnh nặng, có nguyện vọng của hòa
thượng được về nước sống những ngày cuối đời và gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau khi về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần vào Bệnh viện Việt - Xô thăm
nhà sư. Hiện Bảo tàng Hồ Chí Minh còn lưu giữ bức thư Hòa thượng Bình Lương tỏ
ý tiếc khi Người vào thăm, hòa thượng mê man không nói chuyện với Người được.
Ngày 20/4/1966, Hòa thượng Bình Lương viên tịch, hưởng thọ 84 tuổi. Tang lễ Hòa
thượng được tổ chức trọng thể tại chùa Quán Sứ (Hà Nội). Thủ tướng Phạm Văn
Đồng thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh đến đặt vòng hoa kính viếng Hòa thượng. Vòng
hoa ghi dòng chữ: “Kính viếng Hòa thượng Bình Lương tức Phạm Ngọc Đạt,
nhà tu hành yêu nước - đồng chí Hồ Chí Minh”.
Năm 1931 “Hội Nam kỳ Nghiên Cứu Phật Học” đặt trụ sở
tại chùa Linh Sơn (149 đường Cô Giang Sài Gòn). Hội ra tạp chí “Từ Bi Âm” (năm
1932) để truyền bá giáo lý, thỉnh Tam Tạng Kinh từ Trung Hoa về tàng trữ ở Pháp
Bảo Đường của chùa Linh Sơn. Năm 1933, “Liên Đoàn Học Xã” được thành lập ở Nam kỳ để đào tạo tăng
tài và hoằng dương Phật pháp. Các chùa luân phiên mở Phật học đường ba tháng,
mỗi chùa phải lo nuôi ăn ở cho tăng sinh ba tháng và lo thỉnh Pháp sư giảng
dạy. Nhưng Liên Đoàn Học Xã chỉ hoạt động một thời gian ngắn thì gặp nhiều khó
khăn, phải tan rã. Năm
1934, “Hội Lưỡng Xuyên Phật Học” được thành lập. Hội này mở “Phật Học Đường
Lưỡng Xuyên” ở Trà Vinh để đào tạo Tăng Ni (năm 1935, trường ni dời về chùa
Vĩnh Bửu ở Thôm-Bến Tre). Phật Học Đường Lưỡng Xuyên đào tạo được một số tăng
sĩ nổi danh sau này…”. Hội xuất bản sách Phật học giáo khoa bằng
hai thứ tiếng Việt và Hán và ra báo Duy Tâm làm cơ quan ngôn luận. Tờ báo này
lên tiếng kêu gọi thành lập một Phật giáo tổng hội. Năm 1936, Thiện Chiếu về
Rạch Giá, ở lại chùa Tam Bảo cùng với Trí Thiền vận động thành lập Hội Phật học
Kiêm Tế. Hội chính thức hoạt động từ ngày 23/3/1937. Chính Hòa thượng Trí Thiền
làm Chánh tổng lý của Hội. Tạp chí Tiến hoá (01/1/1938) do Đỗ Triết Kiệu làm
chủ nhiệm và Phan Thanh Hà chủ bút. Năm 1943, Hòa thượng Khánh Hoà về Bến Tre,
ở chùa Vĩnh Bửu tổ chức Phật học đường đầu tiên dành riêng cho ni giới tại Nam
Kỳ.