image banner
VI | EN
Từ lý luận về cách mạng dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin đến thực tiễn của cách mạng Việt Nam
Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc luôn giữ vị trí chiến lược, là mắt xích quan trọng của cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tuy nhiên, việc vận dụng các nguyên tắc kinh điển vào thực tiễn đòi hỏi một sự nhạy bén về tư duy và thấu hiểu sâu sắc đặc thù lịch sử của từng quốc gia. Đối với Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lý luận về dân tộc không chỉ được tiếp nhận một cách nguyên mẫu mà đã được nghiên cứu, vận dụng và phát triển một cách sáng tạo.

1. Tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin về dân tộc và cách mạng dân tộc

1.1. Hệ thống khái niệm về dân tộc

Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, dân tộc và cách mạng dân tộc được xác định là những vấn đề chiến lược cốt lõi của cách mạng vô sản. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã tiếp cận khái niệm dân tộc theo hai phương diện chủ yếu: thứ nhất là nghĩa rộng, chỉ các cộng đồng người được hình thành trong lịch sử như thị tộc, bộ lạc hay tộc người; thứ hai là nghĩa hẹp mang tính học thuật, chỉ một cộng đồng người ổn định với đầy đủ các tiêu chí của một dân tộc-quốc gia (nation). Trên cơ sở đó, lịch sử phát triển dân tộc được phân kỳ gắn liền với các hình thái kinh tế-xã hội, từ chiếm hữu nô lệ, phong kiến đến tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.

Cùng với đó, C.Mác cũng dùng các thuật ngữ khác để chỉ bản chất của một số dân tộc-nhà nước, như dân tộc bóc lột và dân tộc bị bóc lột, dân tộc thuộc địa bị áp bức, dân tộc đế quốc đi xâm lược và áp bức các dân tộc khác,... Tuy nhiên, khái niệm dân tộc được C.Mác sử dụng thường theo nghĩa dân tộc-quốc gia (nation) hơn là chỉ các cộng đồng người ở hình thức bộ lạc, thị tộc, tộc người,... Dù vậy, dân tộc cũng được C.Mác dùng để chỉ một tộc người hoặc vài ba tộc người có dân số đông nhất với trình độ phát triển kinh tế-xã hội cao nhất trong một quốc gia đa tộc người, tộc người này hay các tộc người này có thể và cũng có trách nhiệm quy tụ các tộc người khác trong quốc gia đó để phát triển thành quốc gia thống nhất đa tộc người, như các thuật ngữ dân tộc Nga, dân tộc Pháp, dân tộc Đức,…

1.2. Quy luật hình thành và phân kỳ lịch sử các dân tộc-quốc gia

Mặc dù có những quan điểm cho rằng, dân tộc-quốc gia chỉ là sản phẩm của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng C.Mác và Ăngghen đã khẳng định sự tồn tại của các loại hình dân tộc tiền tư sản, đặc biệt là ở phương Đông.

Theo C.Mác và Ăngghen, dân tộc là cộng đồng người thuộc phạm trù lịch sử nhất định. Quá trình hình thành dân tộc chính thức bắt đầu diễn ra từ khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã, đến khi các bộ lạc liên minh với nhau để lập nên những nhà nước. Nói cách khác, liên minh bộ lạc là bước đầu tiên để tiến đến sự hình thành dân tộc-quốc gia, là bước quá độ thực hiện việc tập hợp các bộ lạc, tạo điều kiện cho sự hình thành một cộng đồng người rộng lớn hơn và ổn định hơn. Đó chính là dân tộc theo hai nghĩa tùy từng bối cảnh cụ thể: dân tộc-tộc người và dân tộc-quốc gia. Cho nên, theo C.Mác, dân tộc theo nghĩa “nation” được đặt đối lập với địa phương, là một cộng đồng người hình thành tiếp sau bộ lạc, gắn liền với xã hội bước vào thời đại văn minh đồng thời với quá trình xuất hiện nhà nước, và như vậy, nhà nước là một điều kiện của sự hình thành và tồn tại các dân tộc-quốc gia. Trong “Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa”, C.Mác (1976) đã đề cập đến cơ sở bộ lạc của dân tộc. Theo đó, các dân tộc hình thành trên cơ sở nông nghiệp thì tổ chức bộ lạc vẫn bảo tồn. Chỉ đến khi nào công nghiệp và thương nghiệp phát triển mới, những tàn tích thị tộc, bộ lạc mới có thể bị xóa bỏ. Vì vậy, C.Mác và Ăngghen nêu rõ, trước dân tộc tư sản đã có dân tộc của thời kỳ chiếm nô và dân tộc của thời kỳ phong kiến.[1]

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về tiến trình lịch sử dân tộc, song C.Mác đã tạo ra một bước ngoặt lý luận quan trọng cho chủ nghĩa duy vật lịch sử khi phân loại các loại hình dân tộc dựa trên sự vận động của các hình thái kinh tế - xã hội. Theo phương pháp luận này, sự hình thành và phát triển của dân tộc luôn tương ứng với trình độ của cơ sở vật chất và phương thức sản xuất trong từng thời kỳ, bao gồm: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Trong mỗi hình thái đó, tùy vào mức độ phát triển cụ thể, C.Mác còn chia thành các giai đoạn chuyển tiếp khác nhau. Chính sự khác biệt về trình độ sản xuất và tổ chức xã hội là cơ sở để ông đưa ra các khái niệm phân loại như dân tộc chậm tiến (lạc hậu) và dân tộc phát triển (văn minh).

1.3. Lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc

Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc và giải phóng các dân tộc bị áp bức được xác định là những nội dung chiến lược, có ý nghĩa then chốt đối với thắng lợi của cách mạng vô sản. Chính vì tầm quan trọng đó, các nhà sáng lập đã tập trung xây dựng hệ thống quan điểm, nguyên tắc toàn diện cả về lý luận lẫn thực tiễn nhằm giải quyết vấn đề dân tộc ở quy mô quốc gia lẫn phong trào cách mạng thế giới. Những luận điểm này không chỉ dừng lại ở việc nhận diện thực trạng mà còn trở thành bộ phận cấu thành hữu cơ trong đường lối đấu tranh giải phóng con người, giải phóng dân tộc và các vùng lãnh thổ thuộc địa.

Trong tác phẩm kinh điển Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen (1974) không chỉ luận giải về các tiền đề lịch sử hình thành dân tộc mà còn vạch trần bản chất của chủ nghĩa đế quốc như một thực thể đại diện cho chế độ áp bức. Bằng thủ đoạn chia rẽ và kích động mâu thuẫn, chủ nghĩa đế quốc thực hiện mưu đồ cai trị, bóc lột không chỉ tại các quốc gia thuộc địa mà ngay cả ở các nước “chính quốc”. Do đó, cách mạng giải phóng dân tộc được xác định là một thành phần hữu cơ của đấu tranh giai cấp, hướng tới mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn sự xâm lược và ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc đối với con người và các dân tộc.

Trên cơ sở nhận diện mối quan hệ biện chứng giữa giai cấp và dân tộc, C.Mác và Ph.Ăngghen (1995, tr. 624) khẳng định: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”; “Sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”. C.Mác cũng phân định rõ ràng giữa dân tộc với các yếu tố chủng tộc hay tôn giáo, từ đó kiên quyết bác bỏ các mưu đồ phân loại “dân tộc da đen”, “dân tộc da trắng”, “dân tộc da vàng”, “dân tộc Hồi giáo”,… mà chủ nghĩa đế quốc sử dụng để thực hiện chính sách chia để trị và phục vụ tham vọng xâm lược toàn cầu.

2. Nghiên cứu vận dụng tư tưởng Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin và tinh hoa tri thức thế giới về vấn đề dân tộc vào thực tiễn nước nhà. Sự vận dụng này đã tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giúp chúng ta giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc vững chắc. Trọng tâm của quá trình này là làm sáng tỏ lịch sử hình thành dân tộc, từ đó khơi dậy tinh thần đoàn kết để làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám. Cuộc cách mạng không chỉ lật đổ ách thống trị thực dân mà còn xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột giữa các tộc người. Qua đó, một cộng đồng quốc gia thống nhất đã được thiết lập, nơi mọi công dân đều bình đẳng, tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị hay chia rẽ dân tộc, địa phương, vùng miền.

2.1. Cơ sở khoa học về sự hình thành sớm của dân tộc Việt Nam

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc nghiên cứu lịch sử hình thành dân tộc không chỉ là nhiệm vụ khoa học mà còn là nền tảng tinh thần cốt lõi để củng cố khối đại đoàn kết, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Dù còn nhiều tranh luận về thời điểm khởi đầu, quan điểm chính thống hiện nay dựa trên lý luận mácxít cho rằng, dân tộc có thể hình thành từ trước thời kỳ tư bản chủ nghĩa thông qua sự liên minh bộ lạc và sự ra đời của nhà nước. Vận dụng lý luận này vào đặc thù Việt Nam, các nhà khoa học thống nhất rằng dân tộc ta hình thành từ rất sớm. Theo Hà Văn Tấn (1980), từ thời đại Hùng Vương với sự liên minh của 15 bộ lạc và sự xuất hiện của nhà nước sơ khai gắn liền với văn hóa Đông Sơn rực rỡ, cộng đồng người Việt đã xác lập được sự thống nhất tương đối về lãnh thổ, ngôn ngữ, kinh tế và quản trị chính trị.

Theo Phan Huy Lê, sở dĩ dân tộc Việt Nam hình thành sớm, vượt khỏi các quy luật phát triển thông thường của phương Tây, là nhờ vào những đặc điểm "phi truyền thống". Khác với lộ trình từ chiếm hữu nô lệ lên phong kiến, Việt Nam phát triển dựa trên "hình thái Á châu" với những đặc trưng riêng biệt về sở hữu và giai cấp. Đặc biệt, "áp lực" từ thiên nhiên (trị thủy, làm nông nghiệp) và áp lực từ giặc ngoại xâm đã trở thành chất xúc tác cực mạnh, buộc các bộ lạc phải sớm từ bỏ sự rời rạc để kết tinh thành một quốc gia thống nhất dưới một chính thể trung ương mạnh. Chính sự bền bỉ trong chiều dài lịch sử đã khiến các nhà nghiên cứu phương Tây như P.R. Féray (1979) cũng thừa nhận Việt Nam là một thực thể dân tộc hoàn chỉnh từ rất sớm, xét trên cả phương diện tổ chức nhà nước lẫn tâm thức nhân dân.

Như vậy, nghiên cứu vận dụng sáng tạo có chọn lọc lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn thế giới cũng như của đất nước ta, hầu hết các nghiên cứu ở trong và ngoài nước, đều tán thành quan điểm dân tộc-quốc gia Việt Nam hình thành sớm; không phải do yêu cầu phát triển của chủ nghĩa tư bản, mà là những yếu tố khách quan và bức thiết của sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong những điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và hoàn cảnh lịch sử luôn phải chống giặc ngoại xâm. Vì vậy, quá trình dựng nước và giữ nước cũng đồng thời là quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Phan Huy Lê (1982) khẳng định: sự hình thành sớm của dân tộc Việt Nam với nội dung xác định trên là một đặc điểm rất quan trọng của lịch sử Việt Nam; góp phần tạo nên sự cố kết dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần đoàn kết dân tộc, của nền văn hóa dân tộc; cắt nghĩa vì sao một nước nhỏ như Đại Việt thời Lý, Trần, Lê mà có đủ sức mạnh vật chất và tinh thần để tồn tại một cách vững vàng, để đánh thắng nhiều đạo quân xâm lược của những đế chế lớn mạnh, như Mông-Nguyên thế kỷ XIII.

Thực tế đã chứng minh, quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam từ thời các vua Hùng dựng nước chính là cơ sở nền tảng tinh thần quan trọng để xây dựng và ngày càng được củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có giá trị phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc Việt Nam vượt qua những thăng trầm của lịch sử, nhất là vẫn trường tồn qua một nghìn năm Bắc thuộc, đánh thắng các đạo quân xâm lược để bảo vệ đất nước, đồng thời xây dựng Tổ quốc chung cho mọi người dân. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ sau 15 năm thành lập đã huy động được sức mạnh của toàn dân tộc đồng lòng đứng lên theo Đảng làm nên Cách mạng tháng Tám thành công, giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân phong kiến, trở thành nước tự do, độc lập; các tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách áp bức, bóc lột.

2.2. Vận dụng lý luận vào lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc

Thành công mang tính bước ngoặt của Đảng Cộng sản Việt Nam nằm ở khả năng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào bài toán dân tộc và giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, cuộc cách mạng không dừng lại ở việc đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc để giành độc lập, mà còn hướng tới mục tiêu sâu xa là xóa bỏ triệt để sự áp bức, bóc lột giữa người với người - cả trong nội bộ từng tộc người và giữa các tộc người với nhau.

Điểm độc đáo trong tư duy của Đảng chính là việc nhận diện chính xác sự phát triển không đồng đều giữa các tộc người tại thời điểm đó: từ người Việt, người Hoa đã có yếu tố kinh tế tư bản, đến các tộc người ở giai đoạn phong kiến, tiền phong kiến, hay những bộ phận còn trong tình trạng thị tộc tan rã. Trong bối cảnh phân hóa phức tạp như vậy, nếu không có một đường lối lý luận khoa học để gắn kết những trình độ phát triển khác nhau thành một khối đại đoàn kết thống nhất, Cách mạng Tháng Tám đã không thể thành công. Chính chiến lược xây dựng một quốc gia đa tộc người bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ và tin cậy lẫn nhau đã trở thành "chất keo" đặc biệt, biến Việt Nam từ một “xứ thuộc địa nửa phong kiến” trở thành một quốc gia độc lập, tự do, nơi mọi rào cản bất bình đẳng dân tộc hoàn toàn bị xóa bỏ.

Như vậy, việc Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc đã khẳng định một luận điểm khoa học quan trọng: dân tộc-quốc gia Việt Nam hình thành từ rất sớm (thời đại Hùng Vương) do những đặc thù về phương thức sản xuất Á châu và yêu cầu khách quan của việc trị thủy, chống ngoại xâm, thay vì là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản như ở phương Tây. Sự nghiên cứu thấu đáo này đã tạo cơ sở lý luận để Đảng quy tụ các tộc người ở nhiều trình độ phát triển khác nhau thành một khối đại đoàn kết thống nhất, đưa Cách mạng tháng Tám đến thành công và xác lập một nhà nước dân tộc độc lập. Thành tựu lớn nhất của quá trình này chính là việc giải phóng triệt để tình trạng bóc lột, bất bình đẳng trong nội bộ và giữa các tộc người, từ đó xây dựng một cộng đồng quốc gia đa tộc người thống nhất, nơi mọi công dân đều bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ, cùng đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Các Mác (1976), Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

2. Các Mác, Ph.Ăngghen (1974), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb. Sự Thật, Hà Nội.

3. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, tập 4.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.

6. Phan Huy Lê (1981), “Nhìn lại cuộc thảo luận vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, Số 1, tr. 6-15.

7. Phan Huy Lê (1982), “Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 2, tr. 9-20.

8. Pierre, Richard Fe’ray (1979), Le Viet Nam au XXè siecle, Paris. Dẫn theo Phan Huy Lê (1981), “Nhìn lại cuộc thảo luận vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, tr. 8.

9. Hà Văn Tấn (1980), “Về khái niệm “dân tộc” (Nation) của Mác và Ăngghen và sự hình thành dân tộc Việt”, Tạp chí Dân tộc học, Số 2, tr. 11-16 và 22.


[1] Dựa trên các quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, Hà Văn Tấn (1980) đã tổng kết các quan điểm về dân tộc như sau: (1) Dân tộc là một phạm trù lịch sử đã được hình thành sau khi chế độ bộ lạc tan rã; (2) Liên minh bộ lạc là bước thứ nhất của quá trình hình thành dân tộc; (3) Dân tộc xuất hiện vào lúc chuyển từ thời đại dã man sang thời đại văn minh, nghĩa là đồng thời với nhà nước; (4) Nhà nước là điều kiện của sự tồn tại dân tộc; (5) Dân tộc biến đổi theo chế độ kinh tế và chế độ xã hội, có dân tộc chiếm hữu nô lệ, có dân tộc phong kiến và có dân tộc tư sản. Ở những dân tộc nông nghiệp, tàn tích của chế độ bộ lạc bảo lưu lâu dài hơn trong các dân tộc thủ công nghiệp và thương nghiệp; (6) Trong quá trình lịch sử, có những dân tộc mất đi và có những dân tộc mới hình thành.

Nguyễn Văn Minh
Nguồn bài viết: Viện Dân tộc học và Tôn giáo học
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1