ĐOÀN CÔNG TÁC VIỆN DÂN TỘC HỌC VÀ TÔN GIÁO HỌC KHẢO SÁT TÌNH HÌNH DI CƯ LAO ĐỘNG TẠI XÃ NÚA NGAM, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Trong chuyến công tác tại tỉnh Điện Biên, Đoàn công tác của Viện Dân tộc học và Tôn giáo học đã có buổi làm việc với UBND xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên và tổ chức tọa đàm khoa học trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ giai đoạn 2026 - 2029, với chủ đề “Những vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và thực trạng di cư lao động tự do của người dân tộc thiểu số tại xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên”. Tại tọa đàm, đoàn nghiên cứu và đại diện địa phương đã trao đổi về điều kiện kinh tế - xã hội, thực trạng di cư lao động tự do của người dân tộc thiểu số, những lợi ích và khó khăn phát sinh trong quá trình di cư, cũng như ảnh hưởng của hiện tượng này đến đời sống gia đình, cộng đồng và công tác quản lý tại địa phương.
Đoàn công tác do
TS. Nguyễn Công Thảo, Viện Dân tộc học và Tôn giáo học, làm Trưởng đoàn. Về
phía xã Núa Ngam, tham dự buổi làm việc có đồng chí Ngô Xuân Chinh, Phó Bí thư
Đảng ủy xã, cùng đại diện các bộ phận chuyên môn của xã. Tại buổi làm việc, hai
bên đã trao đổi thông tin về tình hình địa phương và thực trạng di cư lao động
tự do của người dân trên địa bàn.
TS. Nguyễn Công Thảo - Trưởng đoàn
công tác của Viện Dân tộc học và Tôn giáo học phát biểu khai mạc toạ đàm khoa
học tại xã Núa Ngam tỉnh Điện Biên
Tại buổi toạ đàm, đại
diện UBND xã Núa Ngam đã giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên, dân cư,
kinh tế - xã hội và những vấn đề nổi bật đang đặt ra trên địa bàn. Xã Núa Ngam
được hình thành trên cơ sở sáp nhập 03 xã: Na Tông, Hẹ Muông và Núa Ngam với
diện tích tự nhiên khoảng 26.532 ha, gồm 18 bản cùng 2.675 hộ (khoảng 12.047
nhân khẩu). Đây là địa bàn có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó người Thái
chiếm 38,82%, người Mông chiếm 29,82%, người Khơ-mú chiếm 12,41%, người Lào
chiếm 9,24% và người Kinh chiếm 8,9%. Trên địa bàn có hai bản biên giới là Sơn
Tống và Gia Phú. Đường biên giới Quốc gia tiếp giáp với huyện Phôn-thoong, tỉnh
Luôngpha-bang của nước CHDCND Lào có chiều dài 14.603 km, 06 mốc biên giới từ
122 - 128 (chân mốc 122 - 128 + 287 m).
Sinh kế của người
dân xã Núa Ngam chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, song hoạt động này chịu
nhiều hạn chế từ điều kiện địa hình và thời tiết. Địa hình đồi núi, nhiều khe
suối, cùng với khu dân cư và đất sản xuất phân bố xen kẽ, phân tán khiến việc
canh tác và đi lại gặp không ít khó khăn. Đặc biệt vào mùa mưa, mưa lớn kéo dài
có thể gây lũ, ngập cục bộ và sạt lở đất đá tại các khu vực taluy, địa hình
dốc, ảnh hưởng đến giao thông, nhà ở, đất sản xuất và đời sống người dân. Trong
khi đó, cơ hội tìm kiếm việc làm ổn định tại địa phương còn hạn chế, nguồn thu
nhập của nhiều hộ vẫn phụ thuộc đáng kể vào sản xuất nông nghiệp. Từ bối cảnh
đó, di cư lao động dần trở thành một lựa chọn để tạo thêm thu nhập, nhất là vào
thời gian nông nhàn. Như vậy, việc người dân đi làm xa không chỉ xuất phát từ
nhu cầu tìm kiếm việc làm mà còn gắn với những hạn chế trong sinh kế tại chỗ và
yêu cầu bảo đảm thu nhập cho gia đình.
Theo số liệu do
UBND xã cung cấp, xã Núa Ngam hiện có khoảng 2.630 người đi làm việc ngoài địa
bàn, trong đó lao động là người dân tộc thiểu số chiếm 81,1% (khoảng 2.115
người). Hiện nay, người dân chủ yếu di cư lao động tại các tỉnh trong nước với
công việc chủ yếu là làm tại các công ty lắp ráp, công trình xây dựng… tập
trung đông ở một số tỉnh, thành phố như Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng. Để tìm
việc, họ thường dựa vào sự giới thiệu của người thân, bạn bè hoặc những người
đã có kinh nghiệm đi làm xa trong cùng thôn/bản. Ngoài các mối quan hệ quen
biết trên, mạng xã hội cũng được sử dụng phổ biến để tìm kiếm các thông tin
tuyển dụng và kết nối với người giới thiệu việc làm. Đối với di cư lao động
xuyên biên giới, theo đánh giá của UBND xã, tình trạng người dân tự ý sang Lào
hoặc Trung Quốc làm việc đã giảm sau giai đoạn dịch COVID-19; trên địa bàn hiện
không ghi nhận trường hợp nào vượt biên trái phép, không có vụ buôn lậu biện
giới.
Đối với thu nhập
từ đi làm ăn xa, tại tọa đàm, một số ý kiến cho biết người lao động sau khoảng
3 - 4 tháng làm việc xa nhà có thể tiết kiệm từ 40 đến 60 triệu đồng. Với những
hộ có nhiều thành viên đi làm xa trong thời gian nông nhàn, tổng số tiền mang về
có thể hơn 100 triệu đồng sau mỗi chuyến đi. Theo đó, nguồn tiền này thường
được sử dụng để trang trải chi phí sinh hoạt, sửa chữa hoặc xây dựng nhà ở, mua
sắm phương tiện và đồ dùng có giá trị. Một số hộ còn dành dụm để đầu tư phát
triển sản xuất, tạo thêm sinh kế tại địa phương. Có thể
thấy, di cư lao động đã góp phần nhất định để cải thiện thu nhập và điều kiện
sinh hoạt của nhiều hộ gia đình. Tiền gửi về và khoản tiết kiệm sau thời gian
làm việc xa nhà được sử dụng để trang trải chi phí sinh hoạt, sửa chữa hoặc xây
dựng nhà ở kiên cố, mua xe máy và các vật dụng có giá trị,... Với một số hộ,
nguồn tiền này còn được sử dụng làm vốn phát triển sản xuất và tạo thêm sinh kế
tại địa phương. So với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp, việc
làm trong các công ty và công trình xây dựng có thể đem lại nguồn thu cao hơn
trong những thời điểm nông nhàn.
Tuy nhiên, bên cạnh
những mặt tích cực, việc đi làm xa cũng đặt ra những vấn đề nhất định. Trao đổi
tại buổi làm việc, đại diện UBND xã cho biết, trên địa bàn đại phương xuất hiện
tình trạng nhiều hộ vay mượn để xây nhà hoặc mua sắm tài sản nhằm theo kịp mức
sống của các gia đình xung quanh. Vì thế, khi chi tiêu vượt quá khả năng tài
chính, khoản thu nhập từ làm việc xa nhà có thể không đủ để bù đắp các khoản đã
vay, tạo thêm áp lực kinh tế cho gia đình. Thực tế này đặt ra vấn đề về khả
năng cân đối thu nhập, chi tiêu và sử dụng nguồn tiền kiếm được từ di cư lao
động để ổn định đời sống.
Một nội dung khác được
nhắc đến tại tọa đàm là những rủi ro người lao động có thể gặp phải khi đi làm
xa theo hình thức tự do. Nhiều trường hợp không đăng ký với chính quyền địa
phương, không có hợp đồng lao động hoặc chưa nắm rõ thông tin về nơi làm việc
và điều kiện tuyển dụng. Điều này có thể khiến người lao động gặp tình trạng nợ
lương, bị lừa tiền công, làm việc trong điều kiện không an toàn hoặc khó được
bảo đảm quyền lợi khi xảy ra tai nạn lao động. UBND xã cho rằng, việc thiếu
thông tin về tuyển dụng, tiền lương, chi phí đi lại và điều kiện làm việc khiến
một bộ phận người lao động dễ rơi vào thế bị động. Vì vậy, Đoàn công tác cần
nghiên cứu thêm cách người dân tìm kiếm việc làm, vai trò của người thân, bạn
bè và người môi giới, cũng như mức độ tiếp cận thông tin và khả năng tự bảo vệ
quyền lợi của người lao động. Các nội dung này cũng giúp làm rõ đặc điểm của
dòng di cư lao động tự do, từ địa bàn đến, loại hình công việc, thời gian làm
việc, thu nhập đến tình trạng ký kết hợp đồng và xu hướng trở về địa phương
hoặc tiếp tục di chuyển.
Bên cạnh vấn đề kinh tế và việc làm,
việc người lao động vắng nhà trong
thời gian dài cũng đặt ra những yêu cầu mới trong việc phân công trách nhiệm và duy trì
quan hệ giữa các thành viên gia đình. Các thành viên ở lại phải đảm nhận
nhiều hơn các công việc gia đình như sản xuất, chăm sóc trẻ em, người già, quán
xuyến gia đình,... Đối với những hộ có cả cha mẹ đi làm xa, trẻ em thường được
gửi cho ông bà hoặc người thân chăm sóc. Tuy nhiên, việc theo dõi học tập, quản
lý sinh hoạt và chăm lo đời sống tinh thần cho trẻ có thể gặp khó khăn khi
người chăm sóc không có đủ thời gian hoặc điều kiện. Ngoài ra,
khi một trong hai vợ chồng đi làm xa hoặc cả hai cùng di cư lao động đến những
địa phương khác nhau, khoảng cách địa lý và thời gian sống xa nhau kéo dài có
thể làm nảy sinh mâu thuẫn, ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng; trong một số trường
hợp, những khó khăn này có thể dẫn đến đổ vỡ hôn nhân.
Ở phạm vi cộng đồng,
việc nhiều lao động trẻ đi làm xa khiến nguồn nhân lực tại chỗ giảm, nhất là
khi cần huy động người dân tham gia các công việc chung của bản. Theo trao đổi
tại buổi làm việc, ở một số bản, người ở lại chủ yếu là người cao tuổi và trẻ
em, gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động cộng đồng, phong trào đoàn thể
và thể thao. Tình trạng này cũng đặt ra yêu cầu tính toán khả năng đáp ứng lao
động tại chỗ khi địa phương triển khai các chương trình phát triển kinh tế và
xây dựng mô hình sinh kế.
Ngoài ra, UBND xã cũng đề cập tới
những khó khăn trong quản lý dân cư khi người lao động thường xuyên vắng mặt
hoặc thay đổi nơi làm việc. Trưởng bản và lực lượng công an gặp trở ngại trong
việc nắm bắt tình hình cư trú, cập nhật thông tin và liên hệ với những người
đang làm việc ngoài địa bàn. Để trao đổi thông tin, các nhóm Zalo của chi bộ,
hội phụ nữ và trưởng bản đã được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên, hiệu quả của
hình thức này còn phụ thuộc vào điều kiện kết nối tại địa phương;
song xã vẫn còn 5 bản chưa
có điện lưới, một số khu
vực có sóng điện thoại không ổn định, trong khi đường đến các bản biên giới còn
khó đi lại. Những hạn chế này gây thêm khó khăn cho việc duy trì liên lạc,
truyền tải thông tin và triển khai các hoạt động hỗ trợ người lao động, quản lý
dân cư tại cơ sở. Trước thực tế đó, Đoàn công tác trao đổi
về sự cần thiết phải tăng cường phối hợp giữa chính quyền địa phương, lực lượng
công an, bộ đội biên phòng và trưởng bản trong nắm bắt tình hình di cư, cập nhật
thông tin dân cư và duy trì liên hệ với người lao động đang làm việc ngoài địa
bàn. Đồng thời, cần đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, phù hợp
với đặc điểm ngôn ngữ, phong tục và điều kiện tiếp cận thông tin của đồng bào
dân tộc thiểu số, nhất là tại các bản vùng sâu, vùng biên giới còn khó khăn về
hạ tầng và kết nối.
Kết thúc buổi tọa đàm,
Đoàn công tác đánh giá những thông tin do UBND xã Núa Ngam cung cấp và các ý
kiến trao đổi tại buổi làm việc là nguồn tư liệu thực tiễn quan trọng phục vụ
nhiệm vụ nghiên cứu. Thực tế tại xã Núa Ngam cho thấy di cư lao động tự do gắn
với điều kiện sinh kế, nhu cầu tìm kiếm việc làm và các mối quan hệ xã hội,
đồng thời có những tác động nhất định đến đời sống gia đình, cộng đồng và công
tác quản lý dân cư ở địa bàn biên giới. Trong thời gian tới, Đoàn công tác sẽ
tiếp tục khảo sát thực địa nhằm làm rõ hơn thực trạng, nguyên nhân, hình thức
di cư và những thay đổi trong đời sống của người lao động, gia đình và cộng
đồng nơi đi. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn để
đề xuất các giải pháp hỗ trợ người lao động, cải thiện sinh kế tại chỗ và nâng
cao hiệu quả quản lý, hỗ trợ người dân phù hợp với điều kiện địa phương.