image banner
VI | EN
CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ NGHỊ QUYẾT SỐ 57-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết không chỉ tạo động lực cho đổi mới phương thức nghiên cứu, quản lý và phổ biến tri thức, mà còn đặt ra yêu cầu nhìn nhận đầy đủ hơn mối quan hệ giữa công nghệ số với các giá trị văn hóa, xã hội và con người.

Việt Nam là quốc gia thống nhất của 54 dân tộc, mỗi dân tộc có kho tàng tri thức, ngôn ngữ, phong tục, nghi lễ và các thực hành văn hóa đặc thù. Trong bối cảnh đô thị hóa, di cư, biến đổi sinh kế và giao lưu văn hóa ngày càng mạnh mẽ, nhiều giá trị văn hóa tộc người đang đứng trước nguy cơ mai một hoặc biến đổi nhanh chóng. Chuyển đổi số, nếu được tiếp cận phù hợp, có thể mở ra phương thức mới để lưu giữ, truyền dạy và phát huy các giá trị đó; ngược lại, nếu chỉ nhấn mạnh yếu tố công nghệ mà xem nhẹ bối cảnh văn hóa và quyền của cộng đồng, quá trình số hóa có thể làm gia tăng những nguy cơ vốn đã hiện hữu.

Lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam. Ảnh: Tư liệu

Nghị quyết 57-NQ/TW nêu rõ yêu cầu “phát triển văn hóa số bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng, giảm thiểu tác động tiêu cực của công nghệ số đối với xã hội”; đồng thời xác định “khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hóa, xã hội, con người Việt Nam”. Những định hướng này cho thấy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa không thể chỉ dừng ở việc đưa tư liệu lên môi trường số, mà phải hướng tới bảo tồn bản sắc, nâng cao khả năng tiếp cận và tạo điều kiện để cộng đồng tiếp tục thực hành, trao truyền và sáng tạo văn hóa.

Trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tộc người, chuyển đổi số mở ra nhiều phương thức mà trước đây khó thực hiện ở quy mô lớn. Lưu trữ số cho phép ghi lại và bảo quản ngôn ngữ, dân ca, truyện kể, tri thức dân gian, nghi lễ, kỹ năng nghề thủ công và nhiều hình thức thực hành văn hóa khác. Dữ liệu số cũng có thể hỗ trợ giáo dục, truyền dạy cho thế hệ trẻ, quảng bá di sản và kết nối cộng đồng ở những không gian khác nhau. Tuy nhiên, cơ hội đó đi cùng với không ít thách thức. Trước hết là bất bình đẳng số: nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa vẫn gặp khó khăn về hạ tầng, thiết bị và kỹ năng số. Bên cạnh đó, khi một thực hành văn hóa bị tách khỏi không gian xã hội và ngữ cảnh vốn có để đưa lên môi trường mạng, nó có thể bị giản lược, hiểu sai, sử dụng sai mục đích hoặc thương mại hóa khi chưa có sự đồng thuận của cộng đồng. Vì vậy, vấn đề quyền của cộng đồng đối với tri thức truyền thống, quyền quyết định phạm vi công bố dữ liệu và cơ chế chia sẻ lợi ích cần được coi là một nội dung cốt lõi của quá trình số hóa.

Đối với hoạt động nghiên cứu, các công cụ ghi âm, ghi hình, bản đồ số, hệ thống thông tin địa lý (GIS), phần mềm phân tích dữ liệu định tính và các nền tảng quản trị cơ sở dữ liệu đang tạo ra những khả năng mới cho nghiên cứu văn hóa tộc người. Nếu được chuẩn hóa ngay từ khâu thu thập, mô tả và lưu trữ, dữ liệu số có thể hình thành các cơ sở dữ liệu có khả năng liên thông, giúp nhà nghiên cứu đối chiếu biến đổi văn hóa theo thời gian, không gian và giữa các cộng đồng. Tuy nhiên, hiệu quả khoa học không phụ thuộc vào công nghệ đơn thuần. Việc số hóa di sản văn hóa tộc người cần có sự tham gia thực chất của chủ thể văn hóa từ khâu xác định nội dung, lựa chọn cách thể hiện, quyết định mức độ công khai đến khai thác và sử dụng kết quả. Đây không chỉ là yêu cầu về đạo đức nghiên cứu, mà còn là điều kiện để dữ liệu số phản ánh đúng bối cảnh và ý nghĩa văn hóa.

Một thách thức khác là năng lực số của đội ngũ nghiên cứu. Nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội được đào tạo bài bản về điền dã, phỏng vấn, quan sát tham dự và phân tích định tính, nhưng chưa có nhiều cơ hội tiếp cận có hệ thống với các công cụ số chuyên dụng, từ GIS, quản trị dữ liệu, lưu trữ số đến xây dựng cơ sở dữ liệu đa phương tiện. Vì thế, tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đổi mới đào tạo cần được cụ thể hóa bằng các chương trình bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của nghiên cứu văn hóa - xã hội. Mục tiêu không phải là thay thế phương pháp điền dã truyền thống bằng công nghệ, mà là kết hợp năng lực chuyên môn với năng lực số để nâng cao chất lượng nghiên cứu, khả năng lưu trữ và giá trị ứng dụng của kết quả.

Nghị quyết 57-NQ/TW mở ra động lực quan trọng để đổi mới hoạt động nghiên cứu và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tộc người trong bối cảnh chuyển đổi số. Tuy nhiên, chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi công nghệ phục vụ con người và cộng đồng văn hóa, chứ không phải ngược lại. Bởi vậy, mỗi hoạt động số hóa cần trả lời rõ những câu hỏi: số hóa để phục vụ ai, theo cách tiếp cận nào, ai có quyền quyết định nội dung và phạm vi sử dụng, ai được thụ hưởng kết quả? Đóng góp đặc thù của khoa học xã hội trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia chính là bảo đảm rằng sự đa dạng văn hóa của các dân tộc Việt Nam được gìn giữ, tiếp nối và phát huy một cách thực chất trên không gian số, thay vì chỉ được “số hóa” theo nghĩa hình thức.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.

2. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2025), Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.
Lục Mạnh Hùng
Nguồn bài viết: Viện Dân tộc học và Tôn giáo học
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1