image banner
VI | EN
Tết với người Công giáo ở Việt Nam
Mỗi khi gió bấc dịu lại, phố xá bắt đầu đỏ rực sắc đào, quất hay mai vàng và mùi nhang, trầm len qua những ngõ nhỏ, người Việt biết rằng Tết đang về. Với người Công giáo ở Việt Nam, Tết vẫn là cái Tết của người Việt, là đoàn tụ, là nhớ nguồn, là chúc nhau điều lành, dọn dẹp, sửa sang, trang hoàng nhà cửa, giáo xứ, là dịp thăm hỏi nghĩa tình. Nhưng Tết trong các xứ đạo còn có một nét riêng. Đó là nhịp phụng vụ cuối năm cũ đầu năm mới, những thánh lễ tạ ơn, cầu bình an, kính nhớ tổ tiên, và học hỏi suy ngẫm Lời Chúa như một cách đón xuân bằng Đức tin. Ở đó, đạo và đời không tách rời mà hòa quyện, hội nhập. Người Công giáo không bỏ Tết, mà sống Tết theo tinh thần Kitô giáo, để Tết trở thành dịp làm mới Đức tin, làm sâu chữ hiếu, và làm dày tình người.

Nếu ở nhiều gia đình, khoảnh khắc thiêng liêng nhất là phút giao thừa trước bàn thờ gia tiên, thì ở không ít giáo xứ, giao thừa còn gắn với tiếng chuông nhà thờ và thánh lễ đêm cuối năm. Tất niên và giao thừa trong đời sống Công giáo Việt Nam thường được hiểu như thời khắc đi qua năm cũ bằng tâm tình tạ ơn, và mở ra năm mới bằng lời cầu bình an. Đây không chỉ là một sinh hoạt đạo đức tự phát, mà đã thành nếp mục vụ phổ biến tại các giáo phận, với các thánh lễ, nghi thức và hướng dẫn phụng vụ được chia sẻ rộng rãi.

Tết vì thế là một cuộc trở về kép trong lòng nhiều người. Người tín hữu trở về nhà nơi gia đình sum họp, và trở về với chính sự soi xét lòng mình thông qua việc nhìn lại năm cũ bằng ánh sáng Đức tin. Khi nhiều người Việt quen nói đầu năm mới, khởi đầu mới, người Công giáo cũng có một cách nói rất gần: “bắt đầu năm mới trong ân sủng”. Không phải vì họ tin rằng vài ngày đầu năm quyết định số phận, mà vì họ muốn đặt những dự định của mình trong trật tự luân lý Kitô giáo bằng việc sống tử tế hơn, làm việc liêm chính hơn, yêu thương cụ thể hơn.

Trong văn hóa Việt, ngày mùng Một thường dành cho những điều khai mở. Ngày đó được xem như mở cửa năm mới, mở lời chúc, mở lộc đầu xuân. Với người Công giáo, ý nghĩa khai mở ấy được chuyển thành một hành vi tôn giáo như: tham dự thánh lễ đầu năm để cầu xin bình an, xin ơn khôn ngoan, xin sức mạnh vượt qua thử thách. Nhiều nơi gọi đây là thánh lễ “Tân niên”, nhấn mạnh tinh thần bắt đầu lại bằng niềm tin và hy vọng.  Điểm đáng chú ý là bình an mà người Công giáo cầu xin không chỉ là yên ổn theo nghĩa đời thường (làm ăn thuận lợi, gia đạo êm ấm), mà còn là bình an nội tâm: biết đủ, biết ơn, biết tha thứ, biết dừng lại trước điều xấu,... Tết trở thành một trường xét lại các bài học đạo đức, mềm mại và linh hoạt. Ở đó, người ta học cách sống chậm, học cách nói lời lành, học cách hàn gắn những rạn nứt, học cách tha thứ,  học cách yêu thương,…

Một trong những câu hỏi từng gây băn khoăn trong lịch sử gặp gỡ Đông – Tây là Kitô giáo có chấp nhận việc kính nhớ tổ tiên không? Thực tế, Giáo hội Công giáo đã có những bước điều chỉnh quan trọng để nhìn nhận các nghi lễ kính nhớ tổ tiên như một giá trị văn hóa và đạo hiếu, miễn là không biến thành việc trái với Đức tin. Riêng với bối cảnh Á Đông, huấn thị Plane compertum est (1939) của Giáo hoàng Piô XII đã công nhận các nghi lễ kính nhớ tổ tiên như những thực hành không đối nghịch Đức tin. Tại Việt Nam, tinh thần ấy được cụ thể hóa mạnh mẽ trong thực hành của người Công giáo. mùng Hai Tết hoặc tháng 11 dương lịch, họ thường hướng đến kính nhớ tổ tiên, ông bà cha mẹ. Đây là dịp tín hữu khơi dậy đạo hiếu và lòng biết ơn, cầu nguyện cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ, và giáo dục con cháu về cội nguồn.

Trong nhiều gia đình Công giáo ở Việt Nam, bàn thờ tổ tiên không biến mất. Không gian thiêng này được “Kitô hóa” một cách tinh tế trong tư gia, nơi kính nhớ tổ tiên có thể đặt thánh giá ở vị trí trung tâm, có ảnh Chúa, Đức Mẹ, có di ảnh ông bà, có hoa, nến, hương như dấu chỉ tưởng niệm và tôn kính. Khi Tết đến, cả nhà quây quần đọc kinh cầu cho tổ tiên, đó không phải là xin xỏ linh hồn người đã khuất, mà là lời cầu nguyện phó thác xin Chúa đón nhận, thanh luyện, và cho họ được hưởng bình an đời đời. Tết vì vậy trở thành dịp người Công giáo diễn tả chữ hiếu theo ngôn ngữ Đức tin, đồng thời vẫn giữ được hồn Việt của việc nhớ nguồn.

Nếu văn hóa Việt có câu “Mùng ba Tết Thầy” như một cách tri ân người dạy dỗ, thì trong nhiều cộng đoàn Công giáo, ngày mùng Ba gắn với ý hướng “thánh hóa công ăn việc làm”. Nghĩa là người tín hữu bước vào một năm mới không chỉ bằng lời chúc, mà bằng cam kết sống lương thiện trong lao động, tránh gian dối, tránh làm giàu bằng cách tổn hại người khác. Nhiều tài liệu mục vụ nhắc tới chuỗi thánh lễ, nghi thức dịp Tết, trong đó mùng Ba được dành cho ý hướng này.

Ở một xã hội ngày càng thị trường hóa, thánh hóa việc làm nghe có vẻ trừu tượng, nhưng lại chạm đúng nỗi lo rất hiện sinh và cụ thể của người dân. Ví như người Kitô hữu phải làm sao để làm ăn phát đạt mà không đánh đổi nhân phẩm? Họ cần làm gì để tiến thân mà không cúi mình trước điều sai, làm sao để nuôi gia đình mà không làm khổ gia đình khác,... Khi người tín hữu tự vấn những câu hỏi đó trong dịp Tết, phải chăng Tết không chỉ là ngày nghỉ, mà là một lời nhắc đạo đức trước khi guồng quay mưu sinh trở lại?

Một hình ảnh ngày càng quen thuộc trong các nhà thờ dịp Tết là hái lộc. Những dải giấy nhỏ ghi câu Kinh Thánh hoặc lời nhắn đạo đức, được treo trang trọng để giáo dân rút về như “lộc đầu năm”. Báo chí đại chúng cũng ghi nhận thực hành này như một nét riêng của người Công giáo khi đón Tết.  Lộc ở đây không phải bùa may, càng không phải thay thế nỗ lực sống tốt mà lộc là Lời Chúa, như những chỉ dẫn hành động và soi đường cho tín hữu. Họ quan niệm đó là Lời hằng sống, mang ý nghĩa giáo dục và hoán cải hơn là cầu tài, cầu lộc. Dịp Tết, nhiều giáo xứ còn hướng dẫn nghi thức cụ thể như: cách chuẩn bị “lộc Lời Chúa”, vị trí đặt, tránh làm lu mờ bàn thờ, để việc hái lộc giữ được vẻ trang nghiêm phụng vụ. Trong cách tổ chức đó, ta thấy rõ một nguyên tắc hội nhập văn hóa của Công giáo ở Việt Nam, vừa tiếp nhận phong tục tốt đẹp, nhưng loại đi những yếu tố mê tín, và nâng phong tục lên thành một thực hành hướng thiện.

Tết không chỉ có mặt sáng. Cũng như xã hội nói chung, người Công giáo đón Tết giữa nhiều cám dỗ. Cũng có những tình huống rượu chè quá đà và cả các hình thức cầu may dễ “trượt” sang mê tín, đụng phải tín điều. Chính vì vậy, cách Giáo hội cổ vũ “hái lộc Lời Chúa” thay vì cầu may đoán vận không chỉ là chuyện nghi thức, mà là một lựa chọn văn hóa có tính định hướng, qua đó nhằm đưa niềm tin đi vào đạo đức, và hành vi thường nhật, thay vì chạy theo may rủi.  Ở nhiều nơi, linh mục cũng nhắc cộng đoàn: Tết không phải là lúc “xả láng”, mà là lúc “sống đẹp hơn” để xứng với lời chúc mình nói ra. Khi ta chúc nhau “an khang”, người Công giáo hiểu thêm một lớp nghĩa: “an” trước hết là bình an trong tâm hồn và gia đình, “khang” là sức khỏe thể lý và sức khỏe luân lý, khả năng sống ngay thẳng giữa đời.

Một nét bền bỉ của đời sống Công giáo Việt Nam là tinh thần cộng đoàn. Dịp Tết, tinh thần ấy thường thể hiện qua những thăm viếng, những suất quà cho người nghèo, người già neo đơn, các gia đình khó khăn, và cả những người lầm lỗi cần được nâng đỡ. Dù mỗi giáo xứ có cách làm khác nhau, nhưng logic chung rất rõ: mừng Chúa giáng phúc không thể tách khỏi chia sẻ phúc lành cho người thiếu thốn. Mến Chúa phải song hành với yêu người. Trong nhãn quan này, Tết trở thành lễ của tình người. Người ta không chỉ biết nhận quà, mà cần biết cho đi. Người ta không chỉ sum họp gia đình ruột thịt, mà mở rộng gia đình theo nghĩa cộng đồng. Và đó cũng là cách người Công giáo đóng góp vào văn hóa Tết Việt, bớt rườm rà, hình thức và nặng hơn về lòng thương.

Qua đời sống Tết của người Công giáo ở Việt Nam, ta thấy một cộng đồng có thể tiếp nhận Đức tin phổ quát mà vẫn sống rất Việt, thậm chí góp phần làm phong phú thêm cách người Việt hiểu về Tết. Về mặt biểu tượng, nếu Tết truyền thống nhấn mạnh “phúc, lộc, thọ”, thì Tết Công giáo Việt Nam thường nhấn mạnh “ân, nghĩa, bình an”: ân Chúa, nghĩa gia đình, bình an tâm hồn. Hai hệ biểu tượng ấy không triệt tiêu nhau, mà gặp nhau ở chỗ đều hướng con người tới điều thiện, tới sự hài hòa, tới trách nhiệm với gia đình và xã hội.

Một thực tế của thời hiện đại là quá trình di dân và toàn cầu hóa. Hiện thực này đặt ra cho nhiều người Việt (trong đó có người Công giáo) ăn Tết xa quê, xa gia đình. Chính vì vậy, các thực hành phụng vụ đặc thù dịp Tết như những thánh lễ theo truyền thống dân tộc dành cho tín hữu Việt Nam đã trở thành sợi dây văn hóa mạnh mẽ, giúp cộng đoàn Việt ở nước ngoài vẫn giữ được nhịp Tết, giữ tiếng Việt, giữ ký ức quê nhà.  Ở góc độ này, Tết Công giáo không chỉ là chuyện “đạo” mà đó là một phương thức gìn giữ căn tính Việt trong bối cảnh xa quê hương. Khi một cộng đoàn ở xứ người vẫn cử hành thánh lễ kính nhớ tổ tiên bằng tiếng Việt, họ đang làm một việc rất ý nghĩa là giữ ký ức tập thể của dân tộc, đồng thời trao nó cho thế hệ trẻ sinh ra xa quê.

Cuối cùng, có lẽ điều đẹp nhất ở Tết của người Công giáo ở Việt Nam nằm ở sự dung hòa. Ở đó, người ta vẫn thấy có bánh chưng, vẫn câu đối, vẫn chúc Tết, lì xì, vẫn thăm họ hàng... Nhưng rõ rang, chuỗi hành động đó đã được soi sáng bởi Đức tin để tránh điều mê tín, tăng chiều sâu đạo hiếu, khơi lại ý nghĩa “bình an” như một phẩm chất sống. Tết vì thế, không chỉ là mấy ngày nghỉ, mà là một mùa mở ra hy vọng. Hy vọng gia đình được yêu thương bền chặt, hy vọng lòng người được đổi mới, và hy vọng xã hội nhân lên những điều tốt đẹp từ những việc lành rất nhỏ.

 

Nguồn ảnh bài viết từ: https://giaophanbacninh.org/tet-cua-nguoi-cong-giao/

A building with a cross on top
AI-generated content may be incorrect.

TS. Ngô Quốc Đông
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1