Khi ý Đảng thuận với lòng dân: Câu chuyện từ Lô Lô Chải - Làng du lịch cộng đồng nơi biên cương tỉnh Tuyên Quang
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sắp xếp tinh gọn bộ máy hành chính như hiện nay, ý Đảng thuận với lòng dân là sức mạnh phát huy khối đại đoàn kết dân tộc phát triển lên tầm cao mới.
1. Đặt vấn đề
Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan
tâm đặc biệt đến vùng biên giới, ban hành nhiều chương trình, dự án hỗ trợ phát
triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế. Điều này đã tạo điều kiện thuận
lợi cho việc nâng cao đời sống người dân, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và đồng
thuận xã hội, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc, tôn giáo mọi tầng
lớp nhân dân trên địa bàn biên giới. Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước còn quan tâm đến
bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa ở vùng biên giới, bảo tồn giá trị truyền thống
tộc người, hỗ trợ các dân tộc phát triển du lịch cộng đồng gắn với phát huy giá
trị văn hóa. Những thành tựu đạt được trong phát triển du lịch cộng đồng tại
thôn Lô Lô Chải xã biên giới Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang hiện nay là minh chứng
cho mối quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với vùng biên giới và đồng bào dân tộc ở
biên cương.
Lô Lô Chải là một thôn thuộc xã biên
giới Lũng Cú, trước đây thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, nay là tỉnh Tuyên
Quang. Lô Lô Chải được biết đến là làng văn hóa du lịch cộng đồng dân tộc Lô
Lô, nằm dưới chân núi Rồng, cột cờ Lũng Cú - Di tích lịch sử danh lam thắng cảnh
quốc gia. Hành trình hơn 10 năm, từ khi du lịch cộng đồng manh nha ở Lô Lô Chải,
đến nay, ngôi làng nhỏ này đã trở thành điểm sáng du lịch khi cuối năm 2025 Tổ
chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism) đã bình chọn Lô Lô Chải là “Làng du
lịch tốt nhất thế giới năm 2025”. Thực tế khẳng định rằng, kết quả này là kết
tinh của sức mạnh ý Đảng với lòng dân, Đảng đưa ra lộ trình, quyết sách mang
tính chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số
phù hợp với thực tiễn. Trong khi, người dân hiện thực hóa chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước, nắm bắt cơ hội đánh thức tiềm năng, phát huy nội lực
tộc người làm đòn bẩy vươn lên thoát nghèo, nhân rộng mô hình, lan tỏa giá trị
đó trong cộng đồng.
Trên cơ sở tư liệu khảo sát, bài viết
nhận diện hành trình thôn Lô Lô Chải trở thành làng du lịch tốt nhất thế giới; thông
qua thực thi chính sách của Đảng, Nhà nước và vai trò của hệ thống chính trị cơ
sở trong huy động nguồn lực, định hướng phát triển kinh tế từ mô hình du lịch. Từ
đó khẳng định đây là hướng đi đúng, thể hiện quan hệ hài hòa giữa quản lý, bảo
tồn và phát triển, đề cao sự tham gia của người dân - chủ thể văn hóa trở thành
chủ thể phát triển. Đồng thời, phản bác quan điểm cho rằng bảo tồn là kìm hãm phát
triển, du lịch cộng đồng Lô Lô Chải thành công là nhờ nguồn lực từ bên ngoài và
sẽ làm mất bản sắc, nền tảng tư tưởng của Đảng là giáo điều, không còn phù hợp với
kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Thực tế thì phát triển du lịch ở Lô Lô Chải
vừa mang lại lợi ích kinh tế vừa bảo tồn văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết dân
tộc, những giá trị cốt lõi mà Đảng luôn hướng tới; chính sự linh hoạt vận dụng
lý luận vào thực tiễn đã giúp cộng đồng tận dụng hỗ trợ từ bên ngoài nhưng
không bị tác nhân bên ngoài kiểm soát, cộng đồng chính là chủ thể vận hành, lan
tỏa giá trị, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa, giữ vững
quốc phòng an ninh vùng biên giới.
2. Hành trình từ ý Đảng đến lòng dân ở
Lô Lô Chải
Từ khi Cao nguyên đá Đồng Văn được
UNESCO công nhận là Công viên Địa chất toàn cầu năm 2010, Tỉnh ủy Hà Giang (nay
là tỉnh Tuyên Quang) đã ban hành rất nhiều nghị quyết, chương trình nhằm khai
thác tiềm năng du lịch gắn với Công viên địa chất. Đây chính là việc cụ thể hóa
quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch
thành nhiệm vụ, giải pháp mang tính khả thi theo định hướng, lộ trình nhằm khai
thác hợp lý tài nguyên nhân văn, văn hóa phù hợp với tiềm năng của địa phương.
Các nghị quyết, chương trình về phát triển du lịch của tỉnh như: Chương
trình số 62-CTr/TU ngày 29/3/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển văn
hóa gắn với du lịch, giai đoạn 2013-2020; Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày
29/9/2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015-2020
về xây dựng chương trình phát triển du lịch bền vững; Nghị quyết số
35/NQ-HĐND ngày 21/7/2016 quy định một số chính sách phát triển du lịch
trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 17/2016/QĐ-UBND về
Quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết 35 về một số chính sách khuyến
khích phát triển du lịch trên địa bàn;
Chương trình hành động số 29-CTr/TU ngày 24/7/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
về thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 của Bộ Chính
trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; Nghị quyết số
11-NQ/TU ngày 2/8/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển du lịch
Hà Giang giai đoạn 2021-2025; Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 6/10/2021 của
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa Hà Giang
giai đoạn 2021-2025; Nghị quyết số 14/2023/NQ-HĐND ngày 15/7/2023 của Hội
đồng nhân dân tỉnh quy định chính sách hỗ trợ đối với người trực tiếp trông coi
di tích và nghệ nhân lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh; cùng
với Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 18/5/2023 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải
pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch bền vững, đã
tạo hành lang pháp lý vững chắc và cơ chế mở, giúp cộng đồng dân cư ở các địa
phương trong tỉnh cũng như khu vực biên giới tận dụng nguồn lực bên ngoài mà vẫn
giữ vững vai trò chủ thể phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa. Bên cạnh đó, định
hướng đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo động lực cho tăng trưởng
xanh và nâng cao chất lượng đời sống người dân là mục tiêu trong chiến lược
phát triển của tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2025-2030. Trong đó, nhân tố con người
luôn được đề cao, sự đồng thuận của người dân kết hợp với định hướng rõ ràng của
hệ thống chính trị cơ sở là yếu tố then chốt biến chủ trương thành hiện thực,
biến tiềm năng thành động lực phát triển.
Rõ ràng, với các nghị quyết, chương
trình của tỉnh Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang) trong việc cụ thể hóa quan điểm,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch, sự thành
công mô hình du lịch cộng đồng của dân tộc Lô Lô ở thôn Lô Lô Chải không phải
ngẫu nhiên mà có. Đó là kết quả của sự lãnh đạo sát sao, sáng tạo của hệ thống
chính trị cơ sở làm cầu nối đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống. Chúng ta biết
rằng, Lô Lô Chải cũng như hầu hết các thôn bản vùng cao, biên giới của tỉnh
Tuyên Quang là nơi cư trú của các tộc người thiểu số còn nhiều khó khăn, tỷ lệ
hộ nghèo cao, kinh tế bấp bênh do chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp tự cấp trên
địa hình phức tạp, chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thời tiết cũng như dịch
bệnh đến năng suất cây trồng, vật nuôi. Dân tộc Lô Lô, Pu Péo, Bố Y, Cơ Lao thuộc
diện các dân tộc có khó khăn đặc thù của tỉnh Tuyên Quang. Tuy nhiên, cuộc sống
của người Lô Lô ở thôn Lô Lô Chải hiện nay đã thay da đổi thịt, từ kinh tế chủ
yếu thuần nông, 100% sản xuất nông nghiệp chuyển sang kinh tế nông nghiệp kết hợp
với du lịch. Sự thay đổi này tạo ra tính đa dạng trong sinh kế, vừa sản xuất
nông nghiệp, vừa kiếm thêm thu nhập từ du lịch. Những hộ có thu nhập thêm từ hoạt
động này đều là những hộ khá, thu nhập từ du lịch vừa góp phần bổ trợ cho sinh
kế nông nghiệp vừa đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời bảo tồn các giá trị
văn hóa tộc người Lô Lô nơi đây.
Có thể thấy, do vận dụng tư tưởng lấy
dân làm gốc, gần dân, lắng nghe dân trong việc triển khai các chính sách, hệ thống
chính trị cơ sở đã làm tốt công tác dân vận để xây dựng thành công mô hình du lịch
cộng đồng ở thôn Lô Lô Chải. Từ việc nhận thấy ở Lô Lô Chải có nhiều tiềm năng
chưa được đánh thức nhưng lại có nguy cơ mai một, chính quyền địa phương đã xác
định nhiệm vụ cần phải bảo tồn văn hóa tộc người bằng cách tuyên truyền và định
hướng cho người dân khai thác chính giá trị văn hóa của dân tộc mình để phát
triển du lịch. Đồng thời tổ chức cho lãnh đạo thôn, những người có uy tín trong
cộng đồng như Bí thư, Trưởng thôn… đi tham quan, trải nghiệm mô hình du lịch cộng
đồng ở Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Năm 2015, Lô Lô Chải bắt đầu có khách lưu trú do Bí
thư và Trưởng thôn là những người tiên phong, mạnh dạn làm homestay để đón
khách. Các hộ làm homestay được hỗ trợ 60 triệu đồng theo Nghị quyết số 35/NQ-HĐND
ngày 27/1/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về hỗ trợ phát triển du lịch, năm
2017 tiếp tục có thêm một số hộ được hỗ trợ từ chính sách này. Theo số liệu của
thôn Lô Lô Chải cập nhật đến tháng 5/2025, trong tổng số 120 hộ có đến 50 hộ có
homestay đón khách lưu trú. Con số này cho thấy, mô hình du lịch cộng đồng ở Lô
Lô Chải thực sự đem lại hiệu quả, thu hút 50% số hộ trong thôn tham gia, bởi họ
nhận thấy lợi ích kinh tế từ làm du lịch, từ tấm gương của Bí thư, Trưởng thôn -
những đảng viên đi đầu dẫn dắt cộng đồng thay đổi tư duy, đoàn kết làm theo. Trong
quá trình làm homestay, người dân không chỉ được hỗ trợ tài chính, vay vốn với
lãi suất thấp từ ngân hàng Chính sách xã hội mà còn được định hướng xây dựng, cải
tạo, điều chỉnh công trình nhà ở, ki-ốt bán hàng giữ nguyên kiến trúc nhà truyền
thống, trát lại tường nhà bằng hỗn hợp đất trộn keo, lợp ngói âm dương, vừa đáp
ứng tiện nghi, tiêu chuẩn của du lịch cộng đồng nhưng vẫn giữ được hồn cốt của căn
nhà trình tường, bảo tồn nguyên bản kiến trúc, cảnh quan ngôi làng gắn với lịch
sử cư trú hơn 200 năm của tộc người Lô Lô nơi đây.
Trên cơ sở xác định chủ thể văn hóa sẽ
quyết định thành công của mô hình du lịch cộng đồng, hệ thống chính trị cơ sở
đã kết nối và tổ chức các lớp học nghề phục vụ du lịch ngay tại thôn Lô Lô Chải,
thu hút đông đảo các hộ dân tham gia. Liên tiếp các năm 2017, 2018, Trung tâm
giáo dục thường xuyên đã mở các lớp dạy nghề và cấp chứng chỉ cho 25 học viên lớp
chế biến món ăn; 25 học viên lớp nghiệp vụ lễ tân; 30 học viên lớp thêu, dệt thổ
cẩm. Chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội cùng người dân luôn tích cực quảng
bá hình ảnh du lịch, khôi phục và duy trì các sản phẩm thủ công truyền thống tại
làng nghề thêu trang phục dân tộc Lô Lô. Trưởng thôn Sình Dỉ Gai thường xuyên sử
dụng công nghệ giới thiệu giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Lô Lô để thu hút
du khách đến Lũng Cú và Lô Lô Chải. Nhờ việc dân vận khéo và linh hoạt định hướng
phát triển du lịch của cả hệ thống chính trị, năm 2018, thôn Lô Lô Chải được công
nhận hoàn thành các tiêu chí Xây dựng làng văn hóa du lịch tiêu biểu gắn với
xây dựng Nông thôn mới. Đồng thời, để nâng cao hiệu quả, quảng bá và lưu giữ
các giá trị văn hóa Lô Lô, hàng năm xã kết hợp với thôn tổ chức Lễ cúng Tổ tiên
dân tộc Lô Lô. Qua đó, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật
thể quốc gia, quảng bá hình ảnh Lễ cúng Tổ tiên của dân tộc Lô Lô đến với người
dân, khách du lịch trong và ngoài nước. Ngoài Lễ cúng Tổ tiên, tri thức dân
gian nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật trang trí trên trang phục của người
Lô Lô nơi đây cũng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết
định số 69/QĐ-BVHTTDL; những người có đóng góp cho cộng đồng do thường
xuyên trình diễn các điệu múa dân gian thu hút khách được công nhận là nghệ
nhân dân gian, giai đoạn 2022-2025 Lô Lô Chải có 9 người là nghệ nhân, hiện vẫn luôn tích
cực truyền dạy, quảng bá và lan tỏa giá trị văn hóa tộc người Lô Lô.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh chuyển đổi
số, chính quyền địa phương đã thành lập Tổ công nghệ số giúp người dân tiếp cận
với công nghệ. Việc ứng dụng internet, sử dụng mã QR code tại các hộ kinh doanh,
góp phần thúc đẩy dịch vụ du lịch của thôn Lô Lô Chải trở nên chuyên nghiệp
hơn. Mỗi người dân Lô Lô đã trở thành những đại sứ du lịch khi kể câu chuyện
văn hóa tộc người mình dựa trên nền tảng số. Điều này đưa Lô Lô Chải thành điểm
đến thông minh, thu hút du khách trong nước và quốc tế. Từ đây, bản sắc văn hóa
Lô Lô có cơ hội vượt khoảng cách địa lý, tỏa sáng trên bản đồ du lịch thế giới.
Quá trình xây dựng thành công và duy
trì mô hình du lịch cộng đồng ở thôn Lô Lô Chải đã chỉ ra rằng, khi các chủ
trương, chính sách của Đảng đi vào lòng dân sẽ huy động được sức mạnh nội sinh
từ nhân dân, khơi dậy ý thức tự giác và chủ động của người dân kiến tạo giá trị
văn hóa truyền thống thành thương hiệu quốc tế. Ở Lô Lô Chải, ý Đảng thuận với
lòng dân không phải khẩu hiệu trừu tượng mà được chứng minh bằng thực tiễn sinh
động, bằng những con số ấn tượng. Như đã đề cập, Lô Lô Chải là một thôn kinh tế
khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, người dân thiếu việc làm… nhưng hiện nay, sinh kế
đã cải thiện, thu nhập theo đầu người tăng, người Lô Lô giờ đây không phải đi
làm thuê vẫn có thu nhập ổn định. Số liệu năm 2023 cho thấy,
số hộ nghèo ở Lô Lô Chải là 14,4%; cận nghèo 4,2%; trung bình/khá là 81,4%. Trong
khi năm 2024, số hộ nghèo nơi đây đã giảm xuống chỉ còn 3,3%; số hộ cận nghèo
3,3%; còn lại 93,3% số hộ thuộc diện trung bình và khá.
Lô Lô Chải đã về đích Nông thôn mới, sớm
hơn so với các thôn khác trên địa bàn. Trong năm
2024, tổng số khách ăn, nghỉ tại thôn Lô Lô Chải là: 5.457 đoàn với 28.974
khách. Ước tính số tiền thu được từ dịch vụ lưu trú tại
thôn đạt trên 4 tỷ đồng (Uỷ ban Nhân dân xã Lũng Cú, 2024). Năm 2025, thôn Lô Lô Chải
đã vượt qua 270 hồ sơ đến từ 65 quốc gia, được Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc
công nhận là “Làng Du lịch tốt nhất thế giới”. Thành quả này là kết tinh
của nội lực cộng đồng kết hợp với công tác dân vận khéo léo của hệ thống chính
trị cơ sở trong việc hiện thực hóa chính sách của Đảng đến người dân, xây dựng
sự đồng thuận và đoàn kết giữa chính quyền với người dân trong việc thực hiện mục
tiêu phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.
Khi chủ trương phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa
được triển khai, chính quyền đã không làm thay người dân mà chỉ định hướng, hỗ
trợ từ quy hoạch, đào tạo… đến kết nối thị trường. Về phía người dân, khi họ thực
sự đồng thuận sẽ không chỉ làm theo mà còn chủ động giữ gìn bản sắc từ trang phục,
lễ hội, ẩm thực truyền thống cho đến kiến trúc nhà ở, không gian bản làng. Bởi sự
mai một bản sắc đồng nghĩa với việc mất đi cơ hội thuận lợi để tham gia phát
triển du lịch. Vì thế, câu chuyện từ Lô Lô Chải một lần nữa khẳng định rằng,
khi chính sách phù hợp với thực tiễn và tôn trọng vai trò chủ thể của người
dân, thì sự phát triển sẽ bền vững. “Ý Đảng” ở đây không áp đặt, mà trở thành động
lực; “lòng dân” không thụ động, mà là trung tâm của mọi chuyển biến. Họ chủ động
tham gia hoạt động du lịch khi thấy lợi ích thiết thực là tăng thu nhập, đời sống
được cải thiện, bản sắc văn hóa được phát huy, giữ gìn. Theo người dân trong
thôn, họ chủ động cải tạo ngôi nhà truyền thống cho sạch, đẹp, độc đáo nhưng vẫn
giữ nguyên kiến trúc trình trường để phục vụ du khách. Bên cạnh mang đến nhiều
hoạt động trải nghiệm cho khách du lịch, người dân còn chủ động quy hoạch khu
trồng rau, chăn nuôi tạo chuỗi liên kết giữa du lịch và nông nghiệp, hình thành
hệ thống cung ứng thực phẩm sạch cho những hộ làm homestay nhằm nâng cao chất
lượng dịch vụ. Người dân vừa chủ động học hỏi kỹ năng phục vụ khách, vừa phát
triển các sản phẩm đặc trưng như nấu rượu ngô, rượu tam giác mạch, chế biến món
ăn truyền thống. Nhiều hộ chủ động tiếp cận nguồn vốn ngân hàng để sửa sang, cải
tạo nhà cửa, sắm các thiết bị đáp ứng tiêu chuẩn của homestay cho khách lưu
trú.
Thêm vào đó, cơ chế chính sách còn tạo ra nguồn lực để cộng
đồng nắm bắt cơ hội, đó là việc Lô Lô Chải đã từng được một số nhà đầu tư, cá
nhân, tổ chức nước ngoài giúp đỡ, khi nhìn thấy giá trị văn hóa đặc trưng và kiến
trúc đặc sắc của ngôi làng. Năm 2014, ông Ogura Yashushi tình nguyện viên người
Nhật Bản đã hỗ trợ 1 hộ gia đình ở Lô Lô Chải mở quán cà phê Cực Bắc. Theo anh
Dìu Dỉ Chiến - chủ quán cà phê Cực Bắc, người Nhật chủ yếu đầu tư về
cơ sở vật chất, chuyển giao kiến thức và kỹ năng để cộng đồng tự vận hành quản
lý theo cách thức quản trị của địa phương.
Câu chuyện từ Lô Lô Chải thành công với mô hình du lịch cộng
đồng cho thấy rõ mối quan hệ giữa bản sắc và phát triển. Bởi một khi con người
và văn hóa đặt vào đúng vị trí là trung tâm, cộng đồng được trao quyền kết hợp
với hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, năng động, sáng tạo, khi đó du lịch không
làm mất đi bản sắc, mà ngược lại, còn giúp đánh thức niềm tự hào dân tộc. Như
đã đề cập, thực tế, phát triển du lịch cộng đồng ở Lô Lô Chải không chỉ mang lại
lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết dân
tộc, những giá trị cốt lõi mà Đảng luôn hướng tới. Đó là đảm bảo sự hài hòa giữa
phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa và giữ vững quốc phòng, đảm bảo an ninh,
chính trị vùng biên giới.
3. Kết luận
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy
“Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” và “Dân
vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Đúng vậy, dù ở thời đại nào thì mối
quan hệ mật thiết giữa ý Đảng và lòng dân luôn được đánh giá cao và không thể
tách rời trên mọi mặt trận từ kinh tế - chính trị - xã hội đến an ninh, quốc
phòng. Ý Đảng thuận với lòng dân thì mặt trận nào cũng chiến thắng, câu chuyện
từ Lô Lô Chải là minh chứng sinh động cho sự đồng thuận, chung sức chung lòng của
cộng đồng tộc người nơi biên cương luôn sát cánh với Đảng và Nhà nước, hiện thực
hóa khát vọng xây dựng cuộc sống ổn định, phát triển, làm giàu trên chính mảnh
đất quê hương, trở thành cột mốc mềm bảo vệ biên giới quốc gia. Ý Đảng thuận với
lòng dân trong phát triển kinh tế vùng biên cương là trụ cột vững chắc để bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng trong mọi hoàn cảnh lịch sử, như trưởng thôn Lô Lô
Chải Sình Dỉ Gai đã từng chia sẻ rất mộc mạc rằng “Mình giàu mới bảo vệ được
biên giới, bảo vệ đất nước”.
Bên cạnh đó, từ việc giữ gìn bản sắc
văn hóa tộc người ở Lô Lô Chải đến khai thác các giá trị đó để thành nguồn lực
phát triển, thành làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025 còn mang ý nghĩa thực
tiễn sâu sắc. Trong bối cảnh mới, khi toàn Đảng, toàn dân thực hiện Nghị quyết
80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa, Lô Lô Chải sẽ còn
viết tiếp câu chuyện ý Đảng thuận với lòng dân, khẳng định giá trị bền vững của
nền tảng tư tưởng “ý Đảng - lòng dân hòa quyện làm một” như Tổng Bí thư
Tô Lâm nhấn mạnh chính là động lực để dân tộc bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
vươn mình của dân tộc.
Tài liệu tham khảo
1. Sỹ
Hào (2026), Đánh thức “mỏ vàng” văn hóa vùng dân tộc thiểu số,
trên trang: https://vietnamnet.vn/nghi-quyet-80-danh-thuc-mo-vang-van-hoa-vung-dan-toc-thieu-so-2507688.html,
truy cập ngày 21/4/2026.
2. Trần
Thị Mai Lan - Đoàn Việt (2020), Sinh hoạt văn hóa của hai dân tộc Lô Lô và
Cơ Lao ở vùng biên giới tỉnh Hà Giang, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội.
3. Trần
Hồng Thu (2025), Văn hóa của các cộng đồng cư dân vùng biên giới đất liền Việt
Nam hiện nay trong phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, chính trị,
Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ, Viện Dân tộc học và Tôn giáo học, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam.
4. Hồ
Chí Minh - Toàn tập (2011), Tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
5. Huyện
ủy Đồng Văn (2025), Báo cáo Kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số
11-NQ/TU ngày 2/8/2021 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch Hà
Giang, giai đoạn 2021-2025, số 1424-BC/HU.
6. Huyện
ủy Đồng Văn (2025), Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-TU, ngày
26/11/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị
Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn giai đoạn 2021-2025,
tầm nhìn đến 2030, số 1423-BC/HU.
7. Ủy
ban nhân dân tỉnh Hà Giang (2014), Quyết định Phê duyệt Quy hoạch tổng thể
phát triển du lịch Hà Giang Đến năm 2020, định hướng đến 2030, số
1646/QĐ-UBND, ngày 20/8/2014.
Uỷ ban Nhân dân xã
Lũng Cú (2024), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã
hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh năm 2024; phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.