Tính thực tiễn trong chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam với người Hoa từ năm 1986 đến nay
Từ sau Đổi mới 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách cụ thể chính sách nhằm giúp người Hoa trở thành bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đảm bảo quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và hỗ trợ cùng phát triển. Nhờ đó, người Hoa ngày càng hòa nhập sâu vào cộng đồng dân tộc, đồng thời phát huy vai trò trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị
Theo kết quả Tổng điều tra dân
số và nhà ở năm 2019, số người Hoa là 749466 người, chiếm gần 0.78% dân
số cả nước phân bố trên 63 tỉnh, thành phố, nhưng tập trung chủ yếu ở thành phố
Hồ Chí Minh với 382826 người [1]. Mặc dù quy mô dân số có những
biến động theo thời gian, song người Hoa đã từng bước hòa nhập vào cộng đồng 54
dân tộc Việt Nam, đồng thời có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh
tế, xã hội và văn hóa của đất nước.
Người Hoa là một cộng đồng đặc thù, khác với các dân tộc thiểu số khác ở
Việt Nam; chẳng hạn, họ chủ yếu sinh sống ở khu vực đô thị, có trình độ phát
triển cao nhất trong số 53 dân tộc thiểu số và có ảnh hưởng rõ rệt đến kinh tế
- xã hội Việt Nam. Đồng thời cộng đồng này
còn duy trì mạng lưới liên kết rộng rãi
không chỉ trong nội bộ mà còn với cộng đồng Hoa kiều trên khắp thế giới, đặc biệt
là với Trung Quốc [2]. Những đặc điểm này khiến
cho chính sách với người Hoa không chỉ dừng lại ở khuôn khổ chính sách dân tộc
thông thường mà còn mang tính chất đa chiều, kết hợp giữa quản lý xã hội, phát
triển kinh tế và yếu tố đối ngoại. Nhận thức được tính đặc thù đó, Đảng và
Chính phủ Việt Nam đã ban hành một loạt chính sách cụ thể đối với người Hoa,
như Chỉ thị số 62-CT/TW ngày 8/11/1995 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về
“Tăng cường công tác đối với người Hoa trong tình hình mới”, hay Chỉ thị số
501/TTg ngày 3/8/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số chính
sách đối với người Hoa. Các văn kiện này thể hiện rõ sự chuyển đổi trong tư duy
chính sách từ quản lý hành chính sang thúc đẩy hội nhập và phát huy nguồn lực của
cộng đồng người Hoa trong bối cảnh Đổi mới và hội nhập quốc tế.
Một trong những nguyền tắc cốt
lõi được khẳng định nhất quán trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam
là: “Người Hoa là công dân Việt Nam, là một bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt
Nam, được hưởng mọi quyền và thực hiện mọi nghĩa vụ của công dân Việt Nam theo
Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời
thực hiện đầy đủ các chủ trương, chính sách chung của Đảng và Nhà nước như các
dân tộc khác.” Chính sách đối với người Hoa lấy phương châm cơ bản là “bảo đảm
bình đẳng dân tộc, đoàn kết, tôn trọng và hỗ trợ cùng phát triển”. Việc bảo đảm những nguyên tắc, phương
châm này trên thực tế đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình hòa nhập
vào đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam của người Hoa. Học giả Phan An cho rằng
sự hòa nhập này chủ yếu xuất phát từ nỗ lực của người Hoa trong việc tìm kiếm
con đường ổn định và phát triển tại khu vực Nam Bộ, qua đó tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động thương mại, sản xuất, kinh doanh, đồng thời phù hợp với lợi
ích chính trị và xã hội[3].
Đối với cộng đồng người Hoa, các chính sách của Đảng và Chính phủ Việt
Nam có tính thực tiễn, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất cũng
như tinh thần. Phần lớn người Hoa tích cực hòa nhập vào cộng đồng dân tộc Việt
Nam tại các địa phương; họ chủ động tham gia các hoạt động thương mại, dịch vụ,
sản xuất kinh doanh, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của nhiều tỉnh
phía Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, nhiều giá trị văn hóa
truyền thống quý báu của người Hoa được bảo tồn và phát huy, góp phần làm phong
phú thêm sự đa dạng văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam.
Qua nhiều năm tuyên truyền, vận động và nỗ lực của Chính phủ Việt Nam,
nhận thức của quần chúng về vai trò quan trọng của người Hoa trong cộng đồng 54
dân tộc Việt Nam ngày càng được nâng cao. Trong công tác cán bộ, các cấp ủy Đảng
và chính quyền rất chú trọng việc lựa chọn, đào tạo, quy hoạch và sử dụng người
Hoa có đủ năng lực, tiêu chuẩn. Tính đến tháng 12/2005, cả nước có gần 3.000 Đảng
viên là người Hoa, trong đó có 1.066 người tham gia trong cấp ủy, Hội đồng nhân
dân các cấp. Trong nhiệm kỳ 2004-2009, 832 đại biểu người Hoa đã được bầu vào Hội
đồng nhân dân các cấp, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ban Chấp hành các đoàn thể từ
cấp cơ sở đến cấp tỉnh, thành phố [4]. Đặc biệt, số người Hoa
ưu tú được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tăng nhiều hơn so với trước. Đa số
cán bộ, đảng viên người Hoa đã phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu và
có những đóng góp nhất định đối với công tác vận động người Hoa. Theo thống kê
tính đến tháng 1 năm 2005 toàn quốc có 4389 đảng viên là
người Hoa. Trong nhiệm kỳ 2016-2021, Quốc hội khóa XIV có 1 đại biểu là người
Hoa; ở các cấp Hội đồng nhân dân có 867 đại biểu người Hoa, tăng 527 người so với
nhiệm kỳ trước. Hàng vạn người Hoa đã tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ
chức chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng, tích cực tham gia các hoạt động
xã hội và phong trào từ thiện, với số lượng ngày càng gia tăng [5].
Hiện nay, đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của người Hoa tương đối tốt;
các chỉ số về chất lượng dân số và mức sống của người Hoa tương đương với người
Kinh và luôn cao hơn so với các dân tộc thiểu số khác. Cụ thể, về kinh tế, tính
trong năm 2007 cả nước có gần 18.000 doanh nghiệp của người Hoa, chủ yếu tập
trung ở các tỉnh phía Nam (Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 81%)[6]. Tuy người Hoa chỉ chiếm
7% dân số nhưng sở hữu đến 30% số doanh nghiệp trên địa bàn thành phố lớn nhất
nước với những
tên tuổi hàng đầu trong nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh như Công ty ABC,
Biti’s, Hữu Liên - Á Châu, Kinh Đô, Thiên Long, Thái Tuấn, Tân Cường Thành,
Vĩnh Tiến, Vạn Thành...Hoạt động của những
doanh nghiệp này đã góp phần đáng kể vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Thành phố
Hồ Chí Minh, giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động, đẩy mạnh công tác
xóa đói giảm nghèo. Về sức khỏe, tuổi thọ trung bình của người Hoa là 74,4 tuổi,
trong khi con số này ở 53 dân tộc thiểu số là 70,7 tuổi và trung bình chung của
người Việt Nam là 73,6 tuổi. Về giáo dục, tỷ lệ người Hoa từ 15 tuổi trở lên biết
đọc, biết viết tiếng Việt đạt 91%, cao hơn mức 80,9% của 53 dân tộc thiểu số. Về
nhà ở, tỷ lệ hộ người Hoa sở hữu nhà kiên cố và bán kiên cố đạt 96,3%, so với
79,2% ở các dân tộc thiểu số khác. Về tiếp cận internet, 83,7% hộ gia đình người
Hoa sử dụng internet, trong khi tỷ lệ này ở các dân tộc thiểu số là 61,3%[7]. Nhìn chung, các chỉ số
đều cao hơn mặt bằng chung của 53 dân tộc thiểu số, cho thấy mức sống của người
Hoa tương đối cao.
Có thể thấy rằng, kể từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới năm 1986 đến
nay, dưới sự lãnh đạo và định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, người Hoa
luôn được xem là một bộ phận không thể tách rời của đại gia đình các dân tộc Việt
Nam. Các chính sách phù hợp của Nhà nước đối với người Hoa đã góp phần quan trọng
vào việc củng cố đoàn kết, ổn định và phát triển của cả cộng đồng người Hoa
cũng như toàn xã hội Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
1. Tổng cục thống kê (2020), Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số
và nhà ở năm 2019, Nxb. Thống kê,
Hà Nội.
2. Nguyễn Công Trí (2020), “Thực trạng
kinh tế xã hội của dân tộc người Hoa ở Việt Nam hiện nay và hàm ý chính sách”, Tạp chí Khoa học chính trị, số 9.
3. Ủy ban dân tộc (2020), Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực
trạng kinh tế-xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019, Nhà xuất bản Thống kê,
Hà Nội.
Giang
Oanh (2007), Cộng đồng người Hoa ngày
càng hội nhập mạnh mẽ vào cộng đồng xã hội Việt Nam,
https://baochinhphu.vn/cong-dong-nguoi-hoa-ngay-cang-hoi-nhap-manh-me-vao-cong-dong-xa-hoi-viet-nam-10211317.htm,
ngày đăng bài 24/5/2007, ngày truy cập 11/4/2026.