image banner
VI | EN
VỀ THÀNH PHẦN CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM
Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống, gồm các dân tộc bản địa và các dân tộc di cư, tạo nên sự giao lưu và hòa hợp văn hóa lâu dài. Do quá trình di cư và hội nhập, nhiều dân tộc có nhiều tên gọi và nhóm địa phương khác nhau nên trước đây khó xác định chính xác thành phần dân tộc. Từ sau năm 1954 và đặc biệt sau năm 1975, Đảng và Nhà nước đã tổ chức điều tra, xác định thành phần dân tộc trên cơ sở văn hóa, ngôn ngữ và ý thức tự giác tộc người. Năm 1979, Nhà nước chính thức công bố Danh mục 54 dân tộc Việt Nam, được sử dụng thống nhất trên cả nước đến nay.

Trên đất nước ta, từ lâu đời đã có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có thể chia thành hai nhóm chính: i) Các dân tộc tại chỗ đã sinh sống lâu đời; ii) Các dân tộc di cư từ nước khác đến. Trong các dân tộc di cư đến Việt Nam, có những cuộc thiên di đã diễn ra từ hàng trăm năm trước, song cũng có những đợt di cư mới diễn ra trong khoảng trăm năm trở lại đây. Ngoài ra còn có những cuộc  di cư nhỏ lẻ của một bộ phận người dân thuộc nhiều dân tộc diễn ra thường xuyên. Quá trình di dân này dẫn đến một số dân tộc vốn có chung nguồn gốc ban đầu đã phân chia thành nhiều nhóm và sống đan xen với các dân tộc khác ở cùng hoặc khác địa phương. Trong quá trình đó, việc giao lưu văn hóa và hoạt động kinh tế, hôn nhân hỗn hợp dân tộc... diễn ra ngày càng mạnh mẽ, dẫn đến mức độ tương đồng giữa các dân tộc ngày càng lớn, thậm chí có dân tộc hoặc nhóm địa phương đã hòa vào các dân tộc khác hoặc những nhóm địa phương của dân tộc khác. Trong bối cảnh di dân và gia tăng sự hội nhập, mức độ tương đồng giữa các dân tộc đã dẫn đến tình trạng có thể một dân tộc nhưng được gọi bằng nhiều tên, gồm tên tự gọi chung của dân tộc, tên các nhóm địa phương tự gọi, tên do các dân tộc khác gọi. Do có nhiều nhóm địa phương cư trú ở những địa bàn khác nhau nên tuy thuộc một dân tộc nhưng ý thức tự giác và cố kết chỉ diễn ra trong nội bộ nhóm địa phương, tự nhận thành phần dân tộc theo nhóm địa phương. Bởi thế, trước đây không thể biết chính xác ở Việt Nam có bao nhiêu dân tộc và nhóm địa phương trong cùng một dân tộc, các dân tộc và nhóm địa phương này cư trú ở những đâu. Đó là lý do ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, nhất là sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo tổ chức điều tra, xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam để phục vụ công tác quản lý nhà nước, thực hiện chính sách dân tộc,  điều tra dân số hay thống kê theo dân tộc và những lĩnh vực, nhiệm vụ khác có liên quan. 

Việc xác định thành phần dân tộc ở nước ta được tiến hành chính thức từ cuối những năm 60 thế kỷ XX, do Viện Dân tộc học (nay là Viện Dân tộc học và Tôn giáo học) thuộc Ủy ban khoa học xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) chủ trì, cùng với một số ngành khoa học khác như Ngôn ngữ học, Sử học,... Trên cơ sở kết quả cuộc điều tra, xác định thành phần dân tộc của Viện Dân tộc học, ngày 22-12-1978, Liên Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam và Ủy ban Dân tộc Trung ương đã có tờ trình Thủ tướng Chính phủ về kết quả xác định thành phần dân tộc. Thừa ủy quyền của Hội đồng Chính phủ, ngày 2 tháng 3 năm 1979, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ký Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ chính thức ban hành Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam với 54 dân tộc. Trong 54 dân tộc, nhiều dân tộc có những tên gọi khác và có các nhóm địa phương, cụ thể cả nước có trên 300 nhóm địa phương. Danh mục này đã được sử dụng thống nhất trên cả nước từ 1979 đến nay. Có thể khẳng định, Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam là đóng góp to lớn của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, mà trực tiếp là Viện Dân tộc học, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta. Để xác định thành phần dân tộc, các nhà khoa học Việt nam đã sử dụng 03 tiêu chí cơ bản là: có chung đặc điểm văn hóa, sử dụng chung ngôn ngữ và có chung ý thức tự giác tộc người – đây là sự kế thừa có chọn lọc các thành tựu khoa học cũng như thực tế áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Kết quả xác định thành phần dân tộc đều được các nhà dân tộc học tổ chức tham vấn với người dân, thảo luận với chính quyền địa phương trước khi xác định tên gọi chính thức cho một dân tộc cụ thể. Bên cạnh tên gọi chính thức, các tên gọi khác của các dân tộc và nhóm địa phương cũng được ghi nhận và thể hiện ở mục tên gọi khác

        Từ khi công bố, Danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam đến nay đã có đóng góp quan trọng cho việc hoạch định và thực các chính sách ưu việt, tốt đẹp của Đảng và Nhà nước ta dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số nhất là các dân tộc có dân số ít, cư trú ở những địa bàn khó khăn; không có bất kỳ sự phân biệt, đối xử giữa các dân tộc, nhất là các dân tộc di cư đến sau luôn nhân được sự quan tâm hỗ trợ ưu tiên để ổn định đời sống, phát triển kinh tế, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của công dân đối với Tổ quốc. Đặc biệt, đồng bào luôn tự hào khi biết rõ mình thuộc dân tộc nào, nguồn gốc lịch sử và bản sắc văn hóa của dân tộc mình.

Có thể khẳng định, Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam công bố năm 1979 là dựa trên kết quả nghiên cứu công phu, nghiêm túc và nhận được sự đồng thuận của người dân các dân tộc. Trong bối cảnh hiện tại, để góp phần phục vụ phát triển đất nước, chúng ta cần tiếp tục tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn mới về thành phần dân tộc gắn với ý thức tộc người, bản sắc văn hóa tộc người trong xây dựng cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở đó, cung cấp luận cứ khoa góp phần thực hiện chính sách dân tộc tốt đẹp của Đảng và Nhà nước ta, củng cố khối  đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
PGS.TS. Nguyễn Văn Minh
Nguồn bài viết: Viện Dân tộc học và Tôn giáo học
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1