Không thể đánh giá tự do tôn giáo ở Việt Nam bằng cái nhìn thiếu thiện chí
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là chủ trương, đường lối, quan điểm xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ qua các quy định pháp luật và thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Điều này hoàn toàn bác bỏ những luận điệu xuyên tác, đánh giá thiếu thiện chí về tự do tôn giáo ở Việt Nam.
1. Mở đầu
Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự
và Chính trị (ICCPR), mà Việt Nam là quốc gia thành viên, tại Điều 18 nêu rõ:
“Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hạn đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin
theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ” (Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2024). Công ước quy định việc giới hạn
quyền biểu hiện tôn giáo hoặc tín ngưỡng trong những trường hợp cần thiết, theo
quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức
khỏe, đạo đức xã hội hoặc quyền và tự do của người khác. Việt Nam là quốc gia
thành viên của ICCPR, nên có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về
quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều này được
thể hiện trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam, như Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
cũng như Nghị định hướng dẫn thi hành Luật này là Nghị định 162/2017-NĐ-CP, sau
được thay thế bằng Nghị định 95/2023-NĐ-CP có nhiều cải tiến hơn. Việc bảo đám
đó cũng thấy rõ qua sự tăng trưởng, phát triển của các tổ chức tôn giáo. Đời
sống tôn giáo của người dân được Nhà nước bảo đảm. Vì vậy, việc bảo đảm quyền
tự do tôn giáo ở Việt Nam vừa là nghĩa vụ pháp lý trong nước, vừa là cam kết
quốc tế có tính ràng buộc.
Hiện thực tự do tín ngưỡng, tôn giáo
ở Việt Nam là vậy. Nhưng theo Báo cáo thường niên năm 2025 (United
States Commission on International Religious Freedom, 2025), USCIRF[1] cho
rằng, việc Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo. Họ liệt kê Việt Nam vào những
quốc gia cần quan tâm đặc biệt về lĩnh vực này. Đây là một hành động mang nhiều
tính chủ quan, áp đặt và thiếu thiện chí. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế,
hướng tới giải quyết các vấn đề mới nảy sinh giữa các quốc gia, từ Đại hội X
(2006) Đảng ta đã chỉ ra rằng, các quan điểm khác nhau về nhân quyền có thể tạo
ra những bất đồng quan điểm giữa các nước, đồng thời cũng có thể nảy sinh việc
lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp sau vào nội bộ từng quốc gia. Đảng ta
chủ trương: “Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng
đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề
nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng
các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào
công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn
định chính trị của Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 2006).
Đại hội XI của Đảng (2011) đã thông
qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
trong đó nhiều quan điểm về tôn trọng, bảo vệ quyền con người được tổng kết,
như: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể
phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền
và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2011). Đại hội XII của Đảng (2016) cùng
với việc đưa nội dung quyền con người vào tất cả các văn kiện Đại hội, đã nhấn
mạnh nhiệm vụ tiếp tục: “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013... hoàn thiện hệ thống pháp
luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công
dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 169).
Như vậy trong đường lối lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bối cảnh giao lưu hội nhập, tương thích với hệ
thống luật phát quốc tế, Đảng ta đã luôn nhấn mạnh và đề cao việc bảo đảm thực
hiện quyền con người ở Việt Nam
2. Phản bác lại thông tin, quan điểm trong báo cáo của USCIRF
- Về việc Báo cáo của USCIRF cho rằng Việt Nam sử dụng công cụ pháp lý để kiểm soát tôn giáo
là thiếu thiện chí: Nhằm cụ thể hóa Hiến pháp 2013, Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã quy định cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của mọi người (Điều 6); quyền của tổ chức tôn giáo, tôn giáo trực thuộc
(Điều 7); quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp
tại Việt Nam (Điều 8); nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 9); các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo;
tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên
mang tính toàn diện, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng và minh bạch cho việc bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là văn
bản pháp lý cụ thể hóa các nội dung về quyền con người trong lĩnh vực tín
ngưỡng, tôn giáo đã được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật xác định quyền tự do tín ngưỡng và cụ thể hóa
các quyền như: thành lập tổ chức, xây dựng cơ sở thờ tự, xuất bản kinh sách, mở
trường đào tạo tôn giáo, tổ chức lễ hội…
Tiếp theo cụ thể hóa việc thực hiện
luật này, Nghị định 95/2023/NĐ-CP ra đời đơn giản hóa, hợp lý hóa thủ tục hành
chính, tăng cường giám sát nhưng vẫn bảo đảm quyền sinh hoạt tôn giáo. Từ khi
Luật và Nghị định có hiệu lực, hàng trăm tổ chức tôn giáo và hàng nghìn điểm
nhóm đã được công nhận, đăng ký sinh hoạt ổn định trên khắp cả nước.
Báo cáo của Ủy ban Tự do Tôn giáo
Quốc tế Mỹ cho rằng: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định
95/2023/NĐ-CP với lý do để kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tôn giáo (United
States Commission on International Religious Freedom, 2025). Điều này thật gượng ép, vì Việt Nam quản lý hoạt động tôn giáo, tín
ngưỡng theo pháp luật. Tất cả luật đều công khai và được Quốc hội thông qua,
Chính phủ thực thi và được các cơ quan chứng năng và nhân dân giám sát. Báo cáo
USCIRF cho rằng các thủ tục hành chính như đăng ký, báo cáo thay đổi nhân sự,
cung cấp hồ sơ tài chính là sự gây khó khăn, trở ngại của Việt Nam với các tổ
chức tôn giáo. Trên thực tế những quy định này là nhằm đảm bảo minh bạch và
trách nhiệm pháp lý. Hơn nữa, Nghị định 95/2023 so với Nghị định 162/2017/NĐ-CP
trước đó đã đơn giản hóa quy trình, thúc đẩy số hóa thủ tục hành chính, chứ
không phải là công cụ đàn áp như phía Mỹ cáo buộc.[2]
- Về việc Báo cáo cho rằng Việt Nam bắt giữ và
đối xử sai trái với cá nhân tôn giáo là thiếu căn cứ: USCIRF dẫn nhiều trường hợp (như Y Krec Bya[3], Nay Y
Blang[4],Thạch
Cương, Tô Hoàng Chương[5] …)
cho rằng, các cá nhân này bị bắt vì liên quan đến các hoạt động tôn giáo hoặc
vận động cho tự do tôn giáo (United States
Commission on International Religious Freedom, 2025, p.42). Việt Nam khẳng định các vụ việc trên là do các đối tượng vi phạm pháp
luật hình sự như: kích động chia rẽ dân tộc hoặc tuyên truyền chống nhà nước,
chứ không phải bị bắt và tuyên án vì lý do thực hành tín ngưỡng, tôn giáo. Điều
này hoàn toàn đúng với quy định của luật pháp Việt Nam hiện hành. Hiến pháp
2013 đã đưa ra quy định cụ thể về việc quyền con người và quyền công dân có thể
bị giới hạn, với điều kiện là sự hạn chế đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc
tế về quyền con người. Cụ thể, khoản 2 Điều 14 nêu rõ: chỉ trong những trường
hợp cần thiết như bảo vệ quốc phòng, an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn
xã hội, thuần phong mỹ tục và sức khỏe cộng đồng, thì quyền con người và quyền
công dân mới được phép bị hạn chế theo quy định của pháp luật (Hiến
Pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013). Quy định này không chỉ nhằm bảo đảm rằng các cơ quan nhà nước không tùy
tiện can thiệp, xâm phạm các quyền cơ bản của công dân, mà còn góp phần ngăn
chặn việc lợi dụng danh nghĩa quyền con người để tiến hành các hành vi gây
phương hại đến lợi ích chung của quốc gia và xã hội.
Mặt khác, nếu phía cáo buộc truy tìm
trong các văn bản pháp luật hiện hành Việt Nam, thực tế sẽ không có điều khoản
nào quy định việc công dân Việt Nam bị truy tố chỉ vì niềm tin tôn giáo. Hệ
thống tư pháp bảo đảm xét xử công bằng và USCIRF không đưa ra được bằng chứng
cho thấy quá trình tố tụng bị vi phạm. Không chỉ riêng với Việt Nam, đây là các
trường hợp xử lý hành vi cực đoan mang vỏ bọc tôn giáo, mà nhiều quốc gia khác
cũng phải đối mặt.
- Về việc Báo cáo cho rằng Việt Nam cưỡng bức
các nhóm tôn giáo dân tộc thiểu số là thiếu căn cứ: Theo Báo cáo USCIRF cho rằng: Một số tín đồ Tin lành tại Tây Nguyên và
Tây Bắc tiếp tục bị đàn áp nặng nề, bao gồm bắt giữ, giam cầm, tra tấn và ép
buộc từ bỏ đức tin (United States Commission on
International Religious Freedom, 2025, p. 42).
Hiện nay, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
(2016) và Nghị định 95/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể về quyền đăng
ký sinh hoạt tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo, bảo đảm hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Các điều khoản này không phân biệt tôn giáo lớn
hay nhỏ, người dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, mà hướng tới quản lý nhà
nước minh bạch, công bằng, và phù hợp với lợi ích chung. Chính phủ khuyến khích
đăng ký tự nguyện để phân biệt giữa thực hành tôn giáo thuần tuý theo nhu cầu
tinh thần của nhân dân và các nhóm lợi dụng tôn giáo để gây rối. Quy định như
vậy là phù hợp với nghĩa vụ của Nhà nước trong bảo vệ trật tự tại các khu vực
nhạy cảm có tiền sử bất ổn.
Việt Nam hoàn toàn không có điều
khoản pháp luật cho phép cơ quan công quyền cưỡng ép cá nhân từ bỏ niềm tin tôn
giáo. Ngược lại, Điều 5 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo nghiêm cấm “lợi dụng hoạt
động tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ nhân dân, dân tộc, phá hoại đoàn kết dân
tộc, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”. Tại Báo cáo chính trị
trong Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định:
“Chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo, chính sách đối với người có
công, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài... tiếp tục được hoàn
thiện và thực hiện có nhiều tiến bộ.”[6]
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với
54 dân tộc cùng sinh sống. Nhà nước Việt Nam luôn dành sự ưu tiên và đầu tư
đáng kể cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có bảo tồn tín ngưỡng
truyền thống. Các chương trình như, xuất bản Kinh Thánh bằng tiếng Mông, Ê-đê,
Jarai, Banar…, tổ chức lớp tập huấn cho chức sắc dân tộc thiểu số, hay các chuyến
hành hương, đều thể hiện sự bảo đảm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.
- Về việc Uỷ ban tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ cho
rằng Việt Nam đàn áp tổ chức tôn giáo chưa đăng ký: Báo cáo nêu việc các nhóm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị gây
khó khăn trong hoạt động và một số tổ
chức Cao Đài bị chính quyền gây khó dễ như: tín đồ Cao Đài độc lập bị công an
sách nhiễu, ngăn cản việc thăm viếng thánh thất, thực hiện nghi lễ thờ tự, thậm
chí cả trong việc tổ chức tang lễ (United States
Commission on International Religious Freedom, 2025, p.42). Cáo buộc này không thuyết phục vì nó dựa trên lối dẫn liệu một chiều,
thiếu căn cứ kiểm chứng. Một thông tin xác thực về tự do tôn giáo không thể chỉ
lặp lại lời kể từ một phía rồi biến thành kết luận chính trị. Cần phải có được
biên bản, quyết định xử lý, hồ sơ điều tra hay để xác nhận các chi tiết bị nêu.
Cách làm đó cho thấy mục tiêu không phải là mô tả sự thật một cách công bằng,
mà là dựng nên một hình ảnh tiêu cực có sẵn về Việt Nam. Điều này càng thiếu
thiện chí hơn khi pháp luật Việt Nam hiện hành bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo, cấm xâm phạm quyền ấy, và trên thực tế Nhà nước đã công nhận, tạo
điều kiện cho nhiều tổ chức tôn giáo hoạt động công khai, trong đó có các tổ
chức Cao Đài. Vì vậy, quy kết từ một vài thông tin chưa được kiểm chứng để nói
rằng Việt Nam đàn áp hay sách nhiễu có hệ thống đối với Cao Đài độc lập là một
sự suy diễn võ đoán, thiếu khách quan và nặng động cơ chính trị.
Mặt khác, khung pháp lý của Việt Nam
không cấm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật. Những gì bị quản lý là
các tổ chức lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị trái phép hoặc tranh chấp
đất đai dưới danh nghĩa tôn giáo. Việc cưỡng chế, xử lý hành chính thường là do
vi phạm dân sự (ví như: xây dựng trái phép, chiếm dụng đất…), đều không phải
đàn áp tôn giáo. Pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng sự khác biệt giữa niềm tin
và hành vi lợi dụng niềm tin tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Pháp luật Việt Nam không cấm hoạt
động tôn giáo, nhưng yêu cầu các tổ chức tôn giáo đăng kí sinh hoạt. Qua việc
đăng ký, các tôn giáo được bảo đảm quyền lợi pháp lý, minh bạch về cơ cấu và
hoạt động, tránh bị lợi dụng bởi thế lực phản động. Điều 16 đến 20 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (2016) quy
định rõ việc phải đăng ký sinh hoạt, hoạt động tôn giáo. Từ đăng ký sinh hoạt
và hoạt động có thể bảo vệ chính tổ chức tôn giáo và tín đồ khỏi các rủi ro
pháp lý. Mặt khác cũng không có quy định nào trong luật pháp Việt Nam cho phép
cưỡng chế tín đồ từ bỏ nhóm chưa đăng ký để gia nhập nhóm được công nhận. Nếu
người theo tôn giáo gia nhập tổ chức tôn giáo được công nhận, sẽ góp phần tạo
tính minh bạch trong hoạt động, thống nhất trong quản lý, và tạo điều kiện để
tổ chức tôn giáo tiếp cận chính sách công, xây dựng cơ sở thờ tự, đào tạo chức
sắc.
Với trường hợp Cao Đài, hiện nay
Việt Nam công nhận 10 tổ chức Cao Đài và một pháp môn. Nhiều tổ chức Cao Đài
độc lập được cấp phép hoạt động, bao gồm cả những hệ phái tách ra từ Toà Thánh
Tây Ninh. Việc công nhận từng tổ chức tùy thuộc vào việc tổ chức đó có tôn chỉ
tôn giáo rõ ràng, có đại diện hợp pháp, và không hoạt động vi phạm pháp luật.
Do đó một số hệ phái chưa được công nhận vì chưa đủ các điều kiện theo quy định
pháp luật, không thống nhất đại diện pháp lý, hoặc bị lợi dụng để thực hiện
tuyên truyền chính trị, kích động chia rẽ khối đoàn kết tôn giáo-dân tộc. Còn
về tình huống Phật giáo mà báo cáo Uỷ ban tự do Tôn giáo quốc tế nêu, liên quan
đến Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Đây là một tổ chức tôn giáo liên
quan đến giai đoạn trước 1975 và không được công nhận về tư cách pháp nhân ở
Việt Nam theo luật hiện hành.
- Sự thiếu khách quan và nhất quán trong Báo
cáo của USCIRF: Qua nội dung ở trang 42 và 43 của
Báo cáo USCIRF 2025 về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam năm 2024, có thể
thấy cách tiếp cận của cơ quan này thiếu nhất quán. Một mặt, USCIRF thừa nhận
Việt Nam là quốc gia có đời sống tôn giáo đa dạng và đã công nhận 43 tổ chức
thuộc 16 tôn giáo khác nhau (United States
Commission on International Religious Freedom, 2025, p. 43). Mặt khác, báo cáo lại kết luận rằng chính quyền Việt Nam “hạn chế rộng
khắp” quyền tự do tôn giáo. Hai nhận định ấy rõ ràng thiếu sự ăn khớp với nhau.
Không chỉ vậy, việc họ chỉ trích Việt Nam vẫn duy trì quy trình pháp lý đối với
hoạt động công nhận và đăng ký tổ chức tôn giáo cũng cho thấy cơ quan này đang
lấy tiêu chuẩn chính trị của Mỹ để áp vào hệ thống pháp luật của một quốc gia
có chủ quyền. Thực tế tại nhiều nước phát triển, các tổ chức tôn giáo cũng phải
tuân thủ những điều kiện pháp lý khá chặt chẽ, kể cả về tổ chức, tài chính và
nhân sự.
Ngoài ra, báo cáo lựa chọn thông tin
thiên lệch khi nhấn mạnh một số sự kiện tranh chấp đất đai liên quan đến Giáo
hội Công giáo ở Bình Thuận, hoặc các hiện tượng “tôn giáo mới” chưa được công
nhận như Dương Văn Mình, Bà Cô Dợ… ở miền núi phía Bắc mà không đề cập tới các
cơ chế pháp lý, đối thoại và hỗ trợ thực tế của chính quyền đối với đa số các
tổ chức tôn giáo khác đang hoạt động ổn định tại Việt Nam. Sự thiếu công bằng
cũng thể hiện qua việc USCIRF không đánh giá đúng bối cảnh vụ việc Đắk Lắk
(2023) là một vụ tấn công vũ trang gây thiệt hại sinh mạng và an ninh, mà chỉ
tập trung vào cáo buộc “vi phạm tự do tôn giáo” mà không phân biệt rõ đâu là hành
vi tôn giáo, đâu là hành vi phạm tội hình sự.
Như vậy, phải chăng các thông tin về
tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam trong năm 2024 thể hiện trong báo cáo của
USCIRF đầu năm 2025 là một sự trộn lẫn giữa việc nhân danh đánh giá nhân quyền
để thực hiện áp đặt tiêu chí bên ngoài vào một nước khác. Điều này có thể gây
ra sự hiểu nhầm hoặc cách nhìn thiếu thiện chí của các nước với Việt Nam trên
trường quốc tế.
3. Ảnh hưởng của việc sai lệch thông
tin về Việt Nam trong Báo cáo của USCIRF
Theo báo cáo 2025 thì USCIRF đề nghị
Chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “Quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC)
về tự do tôn giáo. Đây không chỉ là một sức ép về chính trị đối ngoại, mà còn
có thể kéo theo nhiều hệ lụy đối với chính sách tôn giáo, an ninh và ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc ở
Việt Nam. Việc bị xếp vào danh sách này dễ tạo ra tâm lý phòng vệ trong xã hội,
đồng thời làm cho một bộ phận tín đồ hoài nghi về chính sách tôn giáo của Đảng
và Nhà nước Việt Nam. Nguy hiểm hơn, các thế lực chống đối có thể lợi dụng việc
này như một cái cớ để xuyên tạc, kích động và lôi kéo chống phá, từ đó tác động
xấu đến ổn định xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia
đa dân tộc, đa tôn giáo, việc ổn định vùng dân tộc thiểu số, nơi có sự hiện
diện đậm đặc của các nhóm Tin lành, luôn là vấn đề quan tâm của Đảng, Nhà nước
và chính quyền địa phương. Điều này có liên quan đến an ninh chính trị của
nhiều khu vực biên giới Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Các cáo buộc thiếu
bằng chứng thuyết phục, nặng tính chủ quan, áp đặt từ USCIRF có thể tạo ra dư
luận xấu, làm giảm uy tín của chính quyền với quần chúng nhân dân vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, nhất là những nơi còn khó khăn về kinh tế, vùng sâu, vùng xa,
dân trí chưa cao.
Mặt khác, từ kinh nghiệm trong quá
khứ cho thấy, việc áp đặt danh sách CPC được Mỹ sử dụng như một công cụ mặc cả
trong quan hệ song phương giữa họ và các quốc gia khác. Trong trường hợp của
Việt Nam, những thông tin của Uỷ ban tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ không phù hợp với
đà phát triển tích cực của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Mỹ - Việt Nam
được thiết lập vào năm 2023, vốn nhấn mạnh sự tin cậy chính trị và hợp tác dựa
trên tôn trọng lẫn nhau.
Việc USCIRF khuyến nghị đưa Việt Nam
trở lại danh sách CPC có thể gây tác động bất lợi đến uy tín và hình ảnh của
Việt Nam trên trường quốc tế. Hiện nay Việt Nam đang chủ động hội nhập và tích
cực tham gia các cơ chế pháp lý nhân quyền quốc tế. Vì vậy nếu đánh giá thiếu
khách quan rất dễ làm cho một số nước và tổ chức quốc tế hiểu không đúng về
tình hình thực tế ở Việt Nam. Điều này làm cho những nỗ lực và kết quả mà Việt
Nam đạt được trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo và quyền con người có thể
không được ghi nhận. Nó ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại và hình ảnh Việt Nam với
bạn bè quốc tế.
Thiết nghĩ, việc tăng cường tổ chức
các chuyến thăm, gặp gỡ giữa chức sắc tôn giáo, học giả, và nhà hoạt động xã
hội hai bên sẽ góp phần hiểu rõ hơn chính sách tôn giáo ở Việt Nam, từ đó hóa
giải định kiến, đồng thời giúp phía Mỹ hiểu rõ hơn về thực hành tôn giáo tại
Việt Nam không chỉ dưới lăng kính thể chế, mà còn ở cấp độ cộng đồng, sự hài
lòng của người dân.
4. Kết luận
Báo cáo thường niên năm 2024 của
USCIRF đưa ra thông tin rằng Việt Nam có những vi phạm nghiêm trọng, đối với
quyền tự do tôn giáo. Tuy nhiên, thông qua phân tích pháp lý, đối chiếu thực
tiễn và tham chiếu với luật pháp hiện hành, chúng tôi cho rằng nhiều lập luận
trong báo cáo là không khách quan, thiếu cơ sở dữ liệu xác thực và không phản
ánh đúng thực tế tình hình tôn giáo đang diễn ra tại Việt Nam.
Việt Nam hiện là quốc gia có hệ
thống pháp luật quy định rõ ràng, công khai về quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo, được bảo đảm trong Hiến pháp và các văn bản luật liên quan. Các hình thức
quản lý hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng
như đăng ký sinh hoạt, đăng ký hoạt động, khuyến khích minh bạch tài
chính, quy định địa điểm sinh hoạt tôn giáo… là hoàn toàn phù hợp với thông lệ
quốc tế. Việc USCIRF “áp đặt” các khuyến nghị mang tính chính trị hóa, thiếu
tinh thần đối thoại, không chỉ gây tổn hại đến hình ảnh và nỗ lực cải cách của
Việt Nam, mà còn có nguy cơ phá vỡ nền tảng hợp tác song phương vốn đang tiến
triển tích cực giữa hai nước. Đặc biệt, trong bối cảnh quan hệ Đối tác Chiến
lược toàn diện giữa Việt Nam và Mỹ được thiết lập. Khi đó, nếu một bên vẫn có
những báo cáo khuyến nghị cho chính phủ chưa chính xác, khách quan ảnh hưởng
đến mối quan hệ đã thiết lập giữa hai bên.
Đã đến lúc Uỷ ban tự do Tôn giáo
quốc tễ Mỹ cần thay đổi cách tiếp cận đối với Việt Nam. Càng không nên tiếp tục
nhìn vấn đề tự do tôn giáo chủ yếu từ góc độ giám sát, áp đặt hay gây sức ép.
Điều cần thiết hơn là đối thoại thẳng thắn, hợp tác chân thành trên tinh thần
xây dựng và tôn trọng lẫn nhau. Việt Nam sẵn sàng trao đổi với các tổ chức quốc
tế, các tổ chức tôn giáo và các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc
lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, để cùng hướng tới việc
bảo đảm tốt hơn các quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Tôn giáo Chính phủ. (2023). Sách Trắng về Tôn giáo ở Việt Nam.
Nxb. Tôn giáo. Hà Nội.
2. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. (2024). Vietnam
2023 Report on International Religious Freedom. https://www.state.gov/reports/2023-report-on-international-religious-freedom/vietnam/
3.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5.
Đảng cộng sản Việt Nam (2026), Báo
cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Bản pdf, Nguồn: https://xdcs.cdnchinhphu.vn/446259493575335936/2026/2/6/bao-cao-ctri-17703880212842123567259-17703933605411372590556.pdf
6.
Đỗ Quang Hưng (2002), Hồ Chí Minh và nền tảng luật pháp tôn
giáo nước ta, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3
7.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh (2024), Giáo trình lý luận và pháp
luật quyền con người. Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
8. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam. (2023). Nghị định 95/2023/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Tín ngưỡng, Tôn giáo. https://cms.btgcp.gov.vn/upload/documents/05_01_2024/nghi-dinh-so-95-2023-nd-cp-quy-dinh-chi-tiet-mot-so-dieu-va-bien-phap-thi-hanh-luat-tin-nguong-ton-giao-2024-01-05-17-12-48.pdf
9. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-hien-phap-nuoc-cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-119231225213002261.htm.
10.
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. (2017). Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo. Nxb. Tôn
giáo, Hà Nội.
11.
USCIRF. (2025). Annual Report 2025. U.S. Commission on International Religious
Freedom. https://www.uscirf.gov/annual-reports.